Bài 2 – Những điểm không khả thi

Rate this post


BNEWSViệc thực hiện chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp còn có những bất cập như hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp hoặc cách tính, giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo tần suất xảy ra tai nạn lao động của từng doanh nghiệp, đơn vị …

Ông Nguyễn Khánh Long, Cục An toàn vệ sinh lao động (Bộ LĐ-TB & XH) chỉ rõ, việc thực hiện chính sách Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp còn những hạn chế, bất cập như hỗ trợ di dời. Khó tính giảm tiền bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc khó tính giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp căn cứ vào tần suất xảy ra tai nạn lao động của từng doanh nghiệp, đơn vị trong ngành rủi ro. Hoặc những người bị TNLĐ, BNN với tỷ lệ thương tật dưới 5% không được giải quyết chế độ bảo hiểm cũng bộc lộ sự bất hợp lý …

Luật An toàn, vệ sinh lao động đã bổ sung khoản chi hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tại Điều 55 và hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tại Điều 56, hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 88/2020 / NĐ-CP.

Tuy nhiên, kết quả thực hiện các chính sách hỗ trợ này còn nhiều hạn chế, chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp từ khi ban hành đến nay vẫn chưa được thực hiện, đặc biệt việc thực hiện chính sách hỗ trợ phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp còn chậm. . Một số nội dung trong quy định tại Điều 56 Luật An toàn, vệ sinh lao động mang tính khắc phục nhiều hơn là phòng bệnh như phục hồi chức năng, khám chữa bệnh nghề nghiệp, thủ tục xác định quyền lợi cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như điều tra lại. tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.

Thiếu một số hoạt động phòng ngừa cần thiết từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, hoạt động thông tin, tuyên truyền, tư vấn, cải thiện điều kiện lao động, triển khai các hoạt động ATVSLĐ tại nơi làm việc.

Điều 44 Luật ATVSLĐ quy định mức đóng tối đa là 1%. Nghị định 58/2020 / NĐ-CP quy định nghề rủi ro cao được giảm phí bảo hiểm tai nạn lao động chưa phù hợp với nguyên tắc hưởng theo mức đóng, nguyên tắc chung của bảo hiểm là rủi ro càng lớn thì rủi ro càng lớn. Phí bảo hiểm càng cao thì phí bảo hiểm càng cao.

Việc tính giảm phí bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp dựa trên tần suất xảy ra tai nạn lao động của từng doanh nghiệp, đơn vị thuộc ngành nghề rủi ro là khó khả thi trong tình hình hiện nay, khó thực hiện ngay cả với các đơn vị nhỏ, ít lao động. cử động; Chi phí giám định, dễ phát sinh cơ chế xin xỏ. Việc chuyển đổi lĩnh vực kinh doanh đa dạng, linh hoạt nên việc áp dụng mức phí bảo hiểm theo ngành chưa phù hợp, khó kiểm soát.

Việc giảm mức đóng theo Nghị định 58/2020 / NĐ-CP mà tính theo tần suất giảm TNLĐ là chưa phù hợp vì: Doanh nghiệp có nhiều vụ thì tần suất giảm có thể lớn hơn. của doanh nghiệp ít tai nạn lao động, nhưng doanh nghiệp ít tai nạn vẫn có thể trả tỷ lệ cao hơn doanh nghiệp nhiều tai nạn do tần suất giảm tốt. Quy định đánh giá viên là giảng viên cơ hữu của tổ chức đào tạo Hằng C và được đào tạo để kiểm tra, tạo thêm điều kiện kinh doanh và hạn chế sự tham gia của các thành phần xã hội.

Nhiều vụ tai nạn lao động xảy ra trước khi Luật ATVSLĐ có hiệu lực, nhất là tai nạn giao thông do vẫn phải thực hiện theo quy định của Luật BHXH trước đây nên không giải quyết được việc tồn đọng (do không có hồ sơ lưu). Chưa lập biên bản hiện trường CSGT xử lý theo quy định của Luật BHXH năm 2006).

Đối với những người bị TNLĐ, BNN với tỷ lệ thương tật dưới 5% không được áp dụng chế độ bảo hiểm còn bộc lộ sự bất hợp lý theo nguyên tắc bảo hiểm còn hạn chế so với bảo hiểm thương mại; tồn tại, rủi ro khi người lao động không lưu giữ hồ sơ hoặc người sử dụng lao động phá sản, giải thể doanh nghiệp và không còn hồ sơ để thực hiện giám định tỷ lệ thương tật tăng thêm và giám định tổng hợp.

Nghị định số 88/2020 / NĐ-CP quy định hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên; chưa quy định đối với người suy giảm khả năng lao động dưới 31%.

“Mức trợ cấp hàng tháng quy định tại Điều 49, trợ cấp một lần quy định tại Điều 48 Luật ATVSLĐ được tính theo mức suy giảm khả năng lao động, thời gian tham gia BHXH và mức lương cơ sở. Ví dụ: người bị suy giảm sức khỏe 81% (mù cả hai mắt, cụt hai chi) đóng bảo hiểm dưới 01 năm thì mức trợ cấp hàng tháng bằng 0,805 lần mức lương cơ sở, tương đương 1.200.000 đồng; mức trợ cấp phục vụ hàng tháng. đối với người bị liệt cột sống, mù hai mắt, cụt hai chi bằng mức lương cơ sở là rất thấp và không phù hợp với thực tế cuộc sống ”, ông Nguyễn Khánh Long phân tích.

Có sự bất bình đẳng trong việc hưởng chế độ hỗ trợ huấn luyện khi điểm b khoản 2 Điều 56 và khoản 1, khoản 2 Điều 14 Luật ATVSLĐ quy định không hỗ trợ cho người lao động làm việc trong điều kiện bình thường (nhóm 4). , đặc biệt thiệt thòi cho doanh nghiệp chỉ có người lao động thuộc nhóm 4 phải đóng góp nhưng không được hưởng. Trên thực tế, các doanh nghiệp rất có nhu cầu hỗ trợ hoạt động đào tạo nhóm 4 từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Chính phủ không có quy định về bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện cho người lao động làm việc không có hợp đồng lao động. Việc quy định chế độ này so với bảo hiểm thương mại và bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc còn nhiều tranh cãi và chưa khả thi.
Tại Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định về điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động đối với “người lao động” nhưng không có quy định về việc hưởng chế độ tai nạn lao động đối với “người sử dụng lao động”, đồng thời người sử dụng lao động tham gia. bảo hiểm tai nạn. xem xét và sửa đổi cho phù hợp.

Điều 57 và 58 Luật An toàn vệ sinh lao động quy định về hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Còn thiếu quy định riêng về hồ sơ đối với các trường hợp tử vong áp dụng theo Điều 111 và Điều 104 của Luật BHXH, tuy nhiên lại áp dụng Điều 104 của Luật BHXH. Luật BHXH đã được bãi bỏ theo Luật ATVSLĐ nên tạo ra sự lúng túng trong việc hiểu và áp dụng. Thành phần hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động cũng chưa hợp lý do thiếu hồ sơ điều tra tai nạn lao động để xác định các trường hợp loại trừ không được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động theo quy định tại Khoản 3 Điều 45 và Điều 40 của Luật An toàn vệ sinh lao động. .

Thủ tục, hồ sơ xét giám định BNN cho người lao động nghỉ việc, chuyển đổi vị trí việc làm, phá sản còn phức tạp dẫn đến nhiều hồ sơ hoàn thiện hơn để hưởng chế độ BNN. khó khăn.

Đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc theo quy định tại Điều 43 của Luật ATVSLĐ mới chỉ giới hạn ở khu vực có quan hệ lao động và người lao động có hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên. Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tự nguyện đã được quy định cho người lao động làm việc không có hợp đồng lao động. Tuy nhiên, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động dưới 1 tháng, người làm công việc kiêm nhiệm ở xã, phường vẫn chưa được Luật ATVSLĐ điều chỉnh … /.

Leave a Reply

Your email address will not be published.