Các thách thức pháp lý và giải pháp để bảo vệ công trình khỏi AI

Rate this post

Sự sẵn có của một lượng lớn dữ liệu và khả năng tính toán cao với giá cả phải chăng đang thúc đẩy sự phát triển của AI. Vì vậy, AI được coi là động lực phát triển kinh tế cả thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích, AI cũng mang đến một số thách thức về mặt pháp lý và xã hội khi hầu hết các nguyên tắc pháp lý hiện nay chỉ xoay quanh chủ thể là “thể nhân”.

Phần 2 của bài viết sẽ làm rõ những thách thức pháp lý và giải pháp xây dựng hệ thống pháp luật để bảo vệ các sản phẩm được tạo ra từ các chương trình máy tính này.

Thực trạng và thách thức pháp lý đối với việc bảo vệ các tác phẩm từ AI ở Việt Nam

Tại Việt Nam, AI đã bắt đầu được phát triển và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, như AI có thể sáng tác 10 giai điệu nhạc / giây của kỹ sư CNTT Nguyễn Hoàng Bảo Đại, AI nhận dạng khuôn mặt trong điều khiển thị giác máy tính. Hiểu được tầm quan trọng của xu hướng mới này, Chính phủ Việt Nam đã xác định AI sẽ là công nghệ đột phá trong 10 năm tới. tiếp theo; đồng thời, đây sẽ là “mũi nhọn” cần được nghiên cứu để tận dụng cơ hội mà cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại.

Để tận dụng tốt những lợi thế mà AI mang lại cho sự phát triển của nền kinh tế số, việc dự báo những thách thức pháp lý cũng như đề xuất một số giải pháp để giải quyết các vấn đề trên là cấp thiết. làm. Bởi dù muốn hay không, AI vẫn đang trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người trong kỷ nguyên kỹ thuật số, nhất là khi AI hoàn toàn có khả năng tự suy nghĩ, tự tạo ra tác phẩm và có khả năng gây ra thiệt hại mà đôi khi người dùng, lập trình viên hay nhà đầu tư không thể lường trước được.

Bên cạnh những tác động tích cực và các chính sách ưu tiên phát triển AI, những tác động tiêu cực của AI cũng xuất hiện. Vì AI không phải là con người tự nhiên mà có, mặc dù AI cũng có những “suy nghĩ” theo các thông số được lập trình sẵn và cập nhật dữ liệu liên tục và nhanh chóng, nhưng sẽ có một số thách thức về khía cạnh pháp lý trong việc bảo vệ các tác phẩm được tạo ra từ AI, đây là một vấn đề mà các nhà nghiên cứu và lập pháp phải xem xét một cách nghiêm túc.

Mặc dù ngành CNTT và IoT ở Việt Nam hiện đang trên đà phát triển nhưng hệ thống pháp luật vẫn chưa tiếp cận rõ ràng với AI hoặc các thực thể mang AI. Điều này tiềm ẩn nguy cơ rủi ro trong quá trình ban hành và áp dụng pháp luật để điều chỉnh nhóm đối tượng này. Pháp luật dân sự Việt Nam quy định chủ thể phải là cá nhân hoặc tổ chức (COL 2015), chưa xác định được chủ thể là máy hay chương trình máy tính nên sẽ không thể xác định được tư cách pháp nhân. Logic của AI cũng như các thực thể mang AI đều là chủ thể của pháp luật, có quyền như con người.

Theo xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới, phương án phù hợp với Việt Nam khi xây dựng hệ thống pháp luật liên quan đến AI là: không cố gắng xác định địa vị pháp lý của AI mà tập trung xác định địa vị pháp lý của AI. Ý nghĩa của AI là gì, bản chất của các chủ thể mang AI là gì để từ đó đưa ra các quy định phù hợp với từng nhóm đối tượng.

-4712-1656053600.jpg

Một số giải pháp để bảo vệ các tác phẩm được tạo ra từ AI

Để tận dụng những lợi thế do AI mang lại, việc dự báo các thách thức pháp lý cũng như đề xuất các giải pháp là điều cấp thiết. Tôi có một số khuyến nghị như sau:

Thứ nhất, luật sở hữu trí tuệ (SHTT) hiện hành chỉ quy định việc bảo hộ các tác phẩm có tính chất truyền thống, theo tiêu chuẩn cũ chỉ công nhận tác giả là con người thực tế. Tuy nhiên, một số sản phẩm do AI tạo ra vẫn đáp ứng các điều kiện là tác phẩm sáng tạo theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và thuộc danh mục tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Do đó, các nhà lập pháp nên xây dựng các ngoại lệ của riêng họ để công nhận việc bảo vệ các tác phẩm do AI này tạo ra, như quan điểm của Vương quốc Anh trong Bản quyền, Thiết kế và Bằng sáng chế 1988 (CDPA).

Thứ hai là xác định tình trạng pháp lý của AI. Trước tiên, cần phải làm rõ rằng địa vị pháp lý của AI và con người là độc lập và khác nhau, vì vậy không thể cố tình gắn AI với con người. Từ góc độ xã hội, AI không thể học và hành xử theo cùng một tập hợp các phẩm chất đạo đức như con người. Hơn nữa, không thể áp dụng các nguyên tắc hoặc trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể AI. Chẳng hạn, trong những trường hợp AI vi phạm pháp luật hiện hành về bản quyền, hành chính, hình sự… thì Nhà nước và các chủ thể trong xã hội sẽ phản ứng như thế nào và áp dụng các biện pháp xử lý như thế nào? Như thế nào là vi phạm? Vì vậy, tôi đề xuất xây dựng bộ tiêu chí đánh giá, phân loại AI, từ đó sẽ đưa ra các quy định cụ thể.

Thứ ba là xác định tác giả và người giữ bản quyền đối với các tác phẩm được tạo ra từ AI. Hiện tại, AI chỉ được xem là công cụ hỗ trợ con người (người dùng) sáng tác tác phẩm, mặc dù hầu hết AI đều tự chủ trong hoạt động này mà không cần sự can thiệp của con người. Ngoài ra, còn có vai trò của các lập trình viên (người đã thiết lập các thuật toán tạo ra AI) và các nhà đầu tư (các cá nhân, doanh nghiệp bỏ tiền đầu tư vào các dự án AI).

Thứ tư là thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp bản quyền đối với các tác phẩm thuộc loại này. Bên cạnh việc thiết lập một hệ thống pháp luật cụ thể cho AI, việc xây dựng các quy định để xử lý các tranh chấp liên quan đến xâm phạm quyền SHTT cũng là một mục tiêu quan trọng. Việc xác định tác phẩm văn học có xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm được bảo hộ hay không là một việc rất khó, không thể xác định được bằng một con số cụ thể trong luật hay bất kỳ văn bản nào về tỷ lệ. tỷ lệ trích dẫn. Trong trường hợp “trích dẫn hợp lý” chỉ được xem xét tính đúng đắn trong từng tình huống cụ thể thì sẽ là một khó khăn lớn để áp dụng cho các tác phẩm được tạo ra từ AI. Việc tạo ra AI phải dựa vào dữ liệu đầu vào do người vận hành và người dùng cung cấp.

Thứ năm là thiết lập hệ thống pháp luật về bồi thường thiệt hại do AI gây ra. Mặc dù AI không phải là con người thực tế, nhưng các nhà lập trình luôn cho rằng họ viết ra các thuật toán ngẫu nhiên để hạn chế sự sao chép của AI, mặc dù người dùng phản bác rằng chương trình chạy của máy tính là để phục vụ nhu cầu cá nhân, nhưng các hành vi xâm phạm đến quan hệ pháp luật hoặc dân sự vẫn có thể xảy ra.

Điển hình là các hành vi vi phạm bản quyền của các tác giả khác (do cơ chế hoạt động của AI là học máy, học từ dữ liệu đầu vào nên nhà cung cấp dữ liệu gửi vào cái gì thì AI sẽ học theo cách đó; càng ít dữ liệu thì khả năng đạo văn càng cao) . Hoặc vì AI là một chương trình máy tính (được đại diện bởi các thực thể hữu hình khác), các sản phẩm của AI hoàn toàn có thể vi phạm các tiêu chuẩn xã hội và đạo đức do con người đặt ra (chẳng hạn như nói những bài viết và lời nói xúc phạm nhân phẩm của người khác, v.v.). Vì vậy, việc thiết lập một hệ thống quy phạm pháp luật để điều chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại do AI gây ra là hết sức cấp thiết và quan trọng.

Khoa Luật, Trường Kinh tế, Luật và Quản lý Nhà nước UEH

Leave a Reply

Your email address will not be published.