Câu hỏi về khả năng tiếp cận thị trường vẫn còn bỏ ngỏ

Rate this post


BNEWSNhiều người đặt câu hỏi về khả năng của Hoa Kỳ trong việc khuyến khích hợp tác kinh tế khu vực chặt chẽ hơn thông qua Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ-Thái Bình Dương vì sự thịnh vượng (IPEF).

Ngày 23/5, Tổng thống Mỹ Joe Biden và 12 người đồng cấp trong khu vực đã chính thức khởi động Khung kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vì sự thịnh vượng (IPEF).

Sau gần 5 năm kể từ khi Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tiền thân của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), IPEF ra đời với mục đích tái hiện chính mình. khẳng định sự tham gia của Hoa Kỳ vào nền kinh tế khu vực và cung cấp giải pháp thay thế do Hoa Kỳ dẫn đầu cho vai trò lãnh đạo kinh tế của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều câu hỏi về khả năng của Mỹ trong việc khuyến khích hợp tác kinh tế khu vực chặt chẽ hơn thông qua khuôn khổ này.
Mười hai đối tác khu vực – bao gồm Australia, Indonesia, Nhật Bản và Hàn Quốc – đã tham gia lễ ra mắt IPEF tại Tokyo vào ngày 23 tháng 5. Nhiều người dự đoán rằng các đồng minh thân cận của Mỹ như Nhật Bản, Australia, New Zealand và Singapore sẽ tham gia vào lễ ra mắt IPEF. Tuy nhiên, bảy quốc gia khác trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – bao gồm tất cả các quốc gia ASEAN là thành viên APEC – cũng tham gia.
Với việc Trung Quốc ngày càng trở nên quyết đoán trong việc xác định lại các quy tắc và chuẩn mực khu vực, IPEF được coi là sự bổ sung kinh tế cho các đảm bảo an ninh khu vực của Hoa Kỳ và cam kết thúc đẩy một khu vực Ấn Độ. Indo-Pacific là tự do và mở.
Trong IPEF, an ninh vẫn được nhấn mạnh như một trọng tâm của khu vực, nhưng các lợi ích kinh tế hữu hình của khuôn khổ vẫn chưa được làm nổi bật rõ ràng. Myanmar, Lào và Campuchia không thuộc IPEF. Các nước Vành đai Thái Bình Dương tham gia đàm phán TPP (Canada, Mexico, Peru và Chile) cũng không được mời. Các quốc đảo ở Thái Bình Dương cũng vắng bóng mặc dù Fiji gia nhập sau đó vài ngày.
IPEF có bốn trụ cột: nền kinh tế kết nối, nền kinh tế phục hồi, nền kinh tế sạch và nền kinh tế công bằng. Mỗi trụ cột được lãnh đạo bởi một cơ quan riêng biệt.
Thứ nhất, trụ cột nền kinh tế kết nối bao gồm các chủ đề về thương mại công bằng và linh hoạt, cụ thể, bao gồm lao động, môi trường và khí hậu, kinh tế kỹ thuật số, nông nghiệp, minh bạch và các thông tin khác. thực hành quản trị tốt, chính sách cạnh tranh và tạo thuận lợi thương mại.
Thứ hai, sự phục hồi kinh tế bao gồm các chủ đề về khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng và được dẫn dắt bởi Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC). Thứ ba, nền kinh tế sạch được dẫn dắt bởi DOC và bao gồm cơ sở hạ tầng, năng lượng sạch và khử cacbon. Cuối cùng, nền kinh tế công bằng bao gồm các chủ đề về thuế và chống tham nhũng và cũng được dẫn dắt bởi DOC.
Các quốc gia có thể lựa chọn tham gia bất kỳ trụ cột nào trong số bốn trụ cột nhưng phải cam kết tất cả các khía cạnh của từng trụ cột mà họ tham gia. Tuy nhiên, IPEF bị giới hạn như một công cụ để hội nhập thương mại khu vực của Hoa Kỳ trong trường hợp Hoa Kỳ không có khả năng tiếp cận thị trường hoặc tự do hóa thuế quan. Việc Hoa Kỳ không sẵn sàng cung cấp các khuyến khích tiếp cận thị trường có thể khiến IPEF trở nên kém hứa hẹn hơn ở một số quốc gia trong khu vực.
Vì IPEF không phải là một hiệp định thương mại truyền thống, chính quyền sẽ không cần quốc hội phê chuẩn và có thể tránh một cuộc chiến chính trị hóa để có được sự phê chuẩn trong nước.

Nếu đảng Cộng hòa giành được quyền kiểm soát một hoặc cả hai viện của Quốc hội sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11, nhiều khả năng áp lực của Quốc hội sẽ buộc các nhà lập pháp phải đóng vai trò lớn hơn trong IPEF. sẽ có nhiều hơn.

Một thỏa thuận không yêu cầu sự chấp thuận của Quốc hội là một tín hiệu cho các quốc gia khác rằng Hoa Kỳ không có ý định nhượng bộ đáng kể.
Ngoài ra, có những hạn chế đáng kể khác đối với IPEF vì nó không phải là một hiệp định thương mại truyền thống. Không có hứa hẹn về khả năng tiếp cận thị trường của Hoa Kỳ, các quan chức Hoa Kỳ đang loại bỏ một động lực đáng kể để buộc các đối tác trong khu vực đồng ý với các tiêu chuẩn cao của Hoa Kỳ. Việc thiếu các cơ chế thực thi cũng hạn chế khả năng của Hoa Kỳ trong việc đảm bảo các lợi ích của mình.
IPEF là trọng tâm của chính sách kinh tế của chính quyền Hoa Kỳ trong một khu vực quan trọng. Sự thất bại của IPEF sẽ là một đòn giáng mạnh vào những mục tiêu này, ngay cả khi Hoa Kỳ cố gắng khuyến khích hợp tác chặt chẽ hơn thông qua các thỏa thuận thay thế, cụ thể là Hội đồng Công nghệ và Thương mại. US-EU.
Nếu Hoa Kỳ có thể nhân rộng mức độ hợp tác và động lực này ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, IPEF cũng có thể trở thành một khuôn khổ đầy tham vọng cho nhiều đối tác hơn.

Leave a Reply

Your email address will not be published.