Chuyển đổi số ngành xây dựng: Kết quả bước đầu và thách thức | Khoa học

Rate this post

(Xây dựng) – Ngày 31/7/2020, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ký Quyết định số 1004 / QĐ-BXD phê duyệt “Kế hoạch chuyển đổi số ngành Xây dựng giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030. ”. Sau hai năm thực hiện, một số nhiệm vụ đã hoàn thành và đang được áp dụng mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.



Quá trình chuyển đổi được thực hiện thông qua quá trình nghiền, nhưng không có sẵn dữ liệu
PGS. Vũ Ngọc Anh – Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Bộ Xây dựng.

Ngày 31/7/2020, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ký Quyết định số 1004 / QĐ-BXD phê duyệt “Kế hoạch chuyển đổi số ngành Xây dựng giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030”. Kế hoạch chuyển đổi số của ngành Xây dựng gồm 6 mục tiêu rất cụ thể, như: Thứ nhất, hoàn thiện thể chế phục vụ chuyển đổi số của Bộ Xây dựng. Thứ hai là Bộ Xây dựng hoàn thành việc xây dựng và vận hành Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số vào năm 2025. Thứ ba là hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu số phục vụ quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng. xây dựng và địa phương (như các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; tiêu chuẩn, quy chuẩn; định mức và giá xây dựng; nhà ở, thị trường bất động sản; vật liệu xây dựng; đồ án quy hoạch; cá nhân, tổ chức được cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng); các phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng; dự án sự nghiệp kinh tế và công nghệ). Thứ tư là phối hợp với các địa phương (trọng tâm là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) để chuyển đổi số trên các lĩnh vực cụ thể như: quản lý quy hoạch xây dựng; quản lý giấy phép xây dựng; quản lý xây dựng. Thứ năm là ứng dụng công nghệ số thúc đẩy chuyển đổi số trong một số lĩnh vực cụ thể như: Ứng dụng GIS trong quản lý quy hoạch và quy hoạch xây dựng; Ứng dụng BIM trong hoạt động đầu tư xây dựng; ứng dụng công nghệ số (DT), trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) trong quản lý vận hành tòa nhà, hệ thống hạ tầng đô thị, doanh nghiệp xây dựng, nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng. Thứ sáu là nhân lực ngành xây dựng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.

Để tập trung nguồn lực cho nhiệm vụ chuyển đổi số, Bộ Xây dựng đã ưu tiên 6 nhóm lĩnh vực cần tập trung triển khai. Bao gồm: Xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa các văn bản, chính sách, pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức, đơn giá … phục vụ công tác quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng cũng như các cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương; Xây dựng Chính phủ điện tử Bộ Xây dựng; Các hoạt động liên quan đến tư vấn thiết kế, tư vấn kiểm tra, thẩm định, xây lắp, nghiệm thu công trình; Sản xuất vật liệu xây dựng; Phát triển đô thị, quy hoạch đô thị và hạ tầng kỹ thuật đô thị; Quản lý nhà ở, văn phòng và thị trường bất động sản.

Với 6 nhóm nhiệm vụ, kế hoạch đã đề ra 32 nhiệm vụ cụ thể thực hiện từ năm 2020 đến năm 2025 và 6 nhiệm vụ đề ra cho giai đoạn 2026-2030. Phóng viên Báo điện tử Xây dựng đã phỏng vấn PGS.TS. GS.TSKH Vũ Ngọc Anh – Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường – Bộ Xây dựng về một số nội dung liên quan đến kế hoạch chuyển đổi số, những thuận lợi cũng như khó khăn trong quá trình thực hiện kế hoạch.

PV: Thưa ông, sau hai năm thực hiện kế hoạch chuyển đổi số của ngành theo Quyết định 1004 / QĐ-BXD của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, chúng ta đã đạt được những mục tiêu gì?

PGS. PGS.TS Vũ Ngọc Anh: Trong hai năm qua, bất chấp diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, lãnh đạo Bộ Xây dựng vẫn quyết liệt chỉ đạo, triển khai các nhiệm vụ trong Kế hoạch chuyển đổi số của Bộ. Bộ Xây dựng đã và đang triển khai 21/32 nhiệm vụ giai đoạn 2020-2025. Chẳng hạn, nhiệm vụ “Xây dựng danh mục văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật, định danh, định dạng mã hồ sơ, tài liệu phục vụ chuyển đổi số” thuộc nhóm nhiệm vụ Hoàn thiện biểu mẫu. Cơ chế phục vụ chuyển đổi số của Ngành được giao cho Vụ Pháp chế thực hiện. Kết quả bước đầu là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật, đánh giá những vướng mắc về thể chế và đề xuất những nội dung mới để trình Lãnh đạo Bộ sửa đổi, bổ sung trong các văn bản quy phạm pháp luật của ngành và các lĩnh vực liên quan nhằm khuyến khích đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. và nền kinh tế kỹ thuật số. Luật Xây dựng sửa đổi 2020 và Nghị định 15/2021 / NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng có nội dung khuyến khích áp dụng mô hình thông tin công trình (BIM) trong hoạt động xây dựng là một ví dụ.

Hay nhóm nhiệm vụ xây dựng và vận hành hiệu quả Chính phủ điện tử của Bộ Xây dựng đã được triển khai trong hai năm 2020 – 2021, với nhiệm vụ: Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin (mạng LAN, máy chủ, phòng họp…). Trực tuyến); nâng cấp Hệ thống quản lý, điều hành văn bản Bộ Xây dựng kết nối với các Bộ, ngành, địa phương trên cả nước; nâng cấp hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) của Bộ. Đến nay, Bộ Xây dựng đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 của 28 thủ tục hành chính trên tổng số 36 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ, đạt tỷ lệ 100% thủ tục hành chính được cung cấp trực tuyến. dịch vụ công cộng. cấp 4.

PV: Thưa ông, xây dựng cơ sở dữ liệu là hoạt động quan trọng trong chuyển đổi số và xây dựng chính phủ số, xin ông cho biết việc xây dựng cơ sở dữ liệu của Bộ Xây dựng đang được triển khai như thế nào? không tí nào?

PGS. PGS.TS Vũ Ngọc Anh: Đúng vậy, chuyển đổi số không thể tách rời việc xây dựng cơ sở dữ liệu số, đây là nhóm nhiệm vụ thứ 3 trong Kế hoạch xây dựng chuyển đổi số giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030. Nhóm nhiệm vụ này gồm 15 nhiệm vụ cụ thể, với mục tiêu số hệ thống cơ sở dữ liệu, bao gồm: văn bản quy phạm pháp luật; các văn bản quy phạm kỹ thuật (quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật …); các dự án quy hoạch; nâng cấp đô thị; hồ sơ thẩm định dự án xây dựng; hồ sơ nghiệm thu công trình trước khi đưa vào sử dụng; Hồ sơ kiểm tra; hồ sơ cán bộ, công chức của Bộ; hồ sơ cấp chứng chỉ năng lực cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực xây dựng… phục vụ sự chỉ đạo, điều hành và quản lý của Bộ.

Đến nay, đã thực hiện được 13/15 nhiệm vụ, trong đó có 7 nhiệm vụ đã hoàn thành và đưa vào vận hành, đó là: Cơ sở dữ liệu về tiêu chuẩn, quy chuẩn ngành xây dựng; hệ thống cơ sở dữ liệu về định mức xây dựng; cơ sở dữ liệu về các dự án nhà ở xã hội, nhà ở thương mại, văn phòng …; cơ sở dữ liệu về cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng cho các tổ chức, cá nhân; cơ sở dữ liệu về các công trình đã được nghiệm thu và đưa vào sử dụng; cơ sở dữ liệu đồ án quy hoạch xây dựng. Các nhiệm vụ còn lại sẽ hoàn thành vào năm 2025 theo kế hoạch.

PV: Trong quá trình triển khai Đề án chuyển đổi số của Ngành, ông nhận thấy những thuận lợi và khó khăn gì trong quá trình triển khai? Và một số đề xuất của bạn?

PGS. PGS.TS Vũ Ngọc Anh: Sau hai năm thực hiện Kế hoạch, có những nhiệm vụ được triển khai thuận lợi, kết quả đưa vào triển khai, ứng dụng mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn những nhiệm vụ khó khăn khi triển khai thực hiện cần được các bộ, ngành cùng với Chính phủ tập trung thực hiện để kế hoạch chuyển đổi quốc gia thành công. Tôi tạm chia những khó khăn gặp phải khi thực hiện chuyển đổi số tại Bộ Xây dựng thành 3 nhóm:

Nhóm thứ nhất là nhận thức về chuyển đổi số của một số lãnh đạo (Vụ, Cục, chuyên viên chuyên trách về chuyển đổi số) còn mơ hồ, coi chuyển đổi số không phải là việc cấp bách, có làm được không? không sao đâu. Do đó, họ không đầu tư đủ thời gian và công sức cho chuyển đổi số, dẫn đến kế hoạch chậm được triển khai.

Nhóm thứ hai là thiếu nhân lực và vật lực. Công tác chuyển đổi số tuy không mới nhưng thực tế chúng ta còn thiếu một đội ngũ chuyên gia và những người am hiểu về chuyển đổi số, đây phải là những người am hiểu về hệ thống pháp luật của ngành, hệ thống tiêu chuẩn quy định, hệ thống định mức đơn giá, các lĩnh vực của Nhà nước. sự quản lý của Bộ, hiểu biết về thủ tục hành chính … Để hướng dẫn chúng ta chuyển đổi cái gì trước, cái gì sau, tuần tự. Cách yêu cầu kết nối từ trên xuống, từ dưới lên và kết nối ngang. Ngoài ra, nguồn kinh phí cho chuyển đổi số chưa có, chúng tôi chủ yếu lấy từ các nguồn khoa học, kinh tế hoặc các nguồn khác. Tôi đề nghị Bộ Tài chính sớm báo cáo Chính phủ, Quốc hội bố trí chi thường xuyên cho chuyển đổi số để các bộ / ngành, địa phương có nguồn chi ổn định, điều tiết.



Quá trình chuyển đổi được thực hiện thông qua quá trình nghiền, nhưng không có sẵn dữ liệu
Hình minh họa (nguồn: Internet).

Nhóm thứ ba, chuyển đổi số nhằm xây dựng chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, trên đó nền tảng của chính phủ số, kinh tế số và xã hội số là cơ sở dữ liệu số. Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta vẫn chưa có quy định thống nhất để xác định việc cấp mã số, mã vạch, định danh, định dạng cho cơ sở dữ liệu số một cách thống nhất giữa các bộ / ngành, địa phương, lĩnh vực … Mã, định danh, định dạng của cơ sở dữ liệu số cơ sở dữ liệu cho phép chúng ta xác định được nguồn thông tin, nội dung của thông tin, cho phép các cơ sở dữ liệu được tập hợp thành một hệ thống hoàn chỉnh, từ trên xuống, từ dưới lên và theo chiều ngang. Ví dụ, năm 2020 chúng tôi sẽ làm việc với các cơ quan hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ để thống nhất các mã tiêu chuẩn quốc gia mà Bộ Xây dựng sẽ biên soạn, đồng thời phục vụ cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu. Số lượng tiêu chuẩn thuộc lĩnh vực tiêu chuẩn ngành xây dựng (Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan được Chính phủ giao quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng), cụ thể là các mã TCVN trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng. diện tích xây dựng sẽ là TCVN 90.xxx -yyyy đến 99.xxx -yyyy; hai số đầu (90, 91 đến 99) phù hợp với tiêu chuẩn phân loại quốc tế (ICS), ba số cuối (xxx) là số tự nhiên do Bộ / ngành quản lý lĩnh vực đề xuất; bốn chữ số sau (yyyy) là năm xuất bản tiêu chuẩn. Căn cứ vào quy định này, các tiêu chuẩn có cục (TCCS) cũng phải thống nhất với quy định về quản lý số, chỉ như vậy chúng ta mới có cơ sở khoa học để xây dựng cơ sở dữ liệu số đã được phê duyệt. lợi nhuận.

Khi những khó khăn trên được tháo gỡ, tôi tin rằng Đề án chuyển đổi số của ngành Xây dựng cũng như của cả nước sẽ có những bước chuyển mình mạnh mẽ hơn và dẫn đến thành công.

PV: Xin trân trọng cảm ơn!

Leave a Reply

Your email address will not be published.