Hướng tất yếu

Rate this post

(TN&MT) – Là nền tảng để phát triển bền vững kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, thời gian qua, nhiều dự án, đề tài nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực môi trường đã được triển khai, ứng dụng, góp phần tích cực trong việc cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự phát triển của các văn bản quy phạm pháp luật, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và hướng tới phát triển bền vững. vững chắc.

Phóng viên Báo TN&MT đã có cuộc trao đổi với ông Trần Bình Trọng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Bộ TN&MT để hiểu thêm về những kết quả đạt được trong nghiên cứu này.

6-1-.jpg

Ông Trần Bình Trọng – Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ TNMT

PV: Xin ông cho biết trong thời gian qua, công tác nghiên cứu KH&CN trong lĩnh vực môi trường đã đạt được những kết quả nổi bật nào?

Ông Trần Bình Trọng: Từ năm 2011 đến nay, hoạt động nghiên cứu KH&CN trong lĩnh vực môi trường được thực hiện thông qua các Chương trình nghiên cứu KH&CN của Chính phủ, Chương trình hợp tác giữa các Bộ / ngành, Chương trình KH&CN của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Trong đó, có 2 Chương trình Khoa học và Công nghệ cấp Bộ “Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ công tác quản lý bảo vệ môi trường ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015” với 50 đề tài nghiên cứu và chương trình “Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ những tiến bộ trong quản lý và bảo vệ môi trường giai đoạn 2016 – 2020 ”với 55 đề tài nghiên cứu.

Các đề tài nghiên cứu được triển khai trong giai đoạn này đã tập trung giải quyết các vấn đề ưu tiên, thiết thực theo yêu cầu của công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường. Nhiều vấn đề mới, khó đã được nghiên cứu, làm rõ về nội dung, kết quả nghiên cứu rõ ràng, góp phần ứng dụng vào thực tiễn làm cơ sở khoa học cho việc ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị của Chính phủ. Đảng về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cũng như góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Chiến lược quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2020, Chiến lược quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2021 – 2030, Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050, Tiêu chuẩn – Quy chuẩn kỹ thuật, đặc biệt là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc xây dựng các văn bản dưới luật.

Bên cạnh việc nghiên cứu, hoàn thiện các giải pháp, công cụ quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường, nhiều đề tài đã từng bước được lựa chọn, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học. , công nghệ thân thiện với môi trường, phù hợp với điều kiện Việt Nam trong việc đề xuất phương án công nghệ xử lý nước thải, chất thải, khí thải thân thiện với môi trường, áp dụng các phương pháp, công nghệ tiên tiến để quan trắc, dự báo, kiểm soát, ngăn ngừa, giảm thiểu và xử lý ô nhiễm môi trường. Điển hình là việc nghiên cứu xây dựng bản đồ số phân bố nồng độ ôzôn (tỷ lệ 1: 1.000.000) và chế tạo thiết bị đo nồng độ ôzôn bề mặt (TNMT.2017.04.10) đã góp phần tạo nền. cơ sở khoa học về xác định nguồn gốc, nguyên nhân làm nồng độ ôzôn cao bất thường để đề xuất lồng ghép quan trắc ôzôn vào chương trình quan trắc không khí của mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia; Nghiên cứu chế tạo bộ thiết bị đo nồng độ bụi PM10, PM2.5 (TNMT.2018.04.01) là giải pháp đo bụi PM10, PM2.5 tự động, di động liên tục, hỗ trợ đắc lực cho kết quả từ hệ thống tự động, các trạm quan trắc không khí liên tục và cố định; ứng dụng vật liệu nano vonfram và thiếc oxit để chế tạo máy dò khí NOx và H2S trong thiết bị quan trắc khí cầm tay (TNMT.2018.04.14); …

Thông qua việc triển khai các dự án với sự tham gia của nhiều cán bộ, chuyên gia có kinh nghiệm đã nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ tham gia thực hiện, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trẻ. Cao hơn đáng kể, tiềm lực KH&CN của các đơn vị được nâng cao, nhất là việc thu thập, cập nhật thông tin mới về KH&CN cũng như có điều kiện giao lưu, học hỏi kinh nghiệm quốc tế.

PV: Có thể thấy, KH&CN là động lực then chốt, có vai trò tích cực đối với sự phát triển bền vững trong tương lai. Trong thời gian tới, định hướng về khoa học và công nghệ trong lĩnh vực môi trường của Bộ TN&MT sẽ tập trung vào những nội dung trọng tâm nào, thưa ông?

Ông Trần Bình Trọng: Ngày nay, phát triển bền vững vừa là nhu cầu cấp thiết, vừa là xu thế tất yếu của quá trình phát triển xã hội, không chỉ là sự lựa chọn mà bắt buộc của các quốc gia trên thế giới. Về nguyên tắc, phát triển bền vững là quá trình hoạt động đồng thời trên ba khía cạnh, bao gồm phát triển kinh tế, tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định, văn hóa đa dạng, môi trường lành mạnh và nguồn lực tài chính. tài nguyên được duy trì bền vững. Vì vậy, hệ thống nguyên tắc đạo đức hoàn chỉnh để phát triển bền vững nằm ở cả ba “chân”: kinh tế – xã hội – môi trường.

6-2-.jpg

Khoa học và công nghệ góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học của Vườn quốc gia U Minh Thượng.

Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều nỗ lực và đạt được nhiều thành tựu trên hành trình phát triển bền vững, thông qua việc ban hành Chương trình quốc gia về phát triển bền vững, với chiến lược được cụ thể hóa bằng các mục tiêu cơ bản. Trong đó, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ cũng như tiếp nhận và chuyển giao công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực môi trường là chìa khóa quan trọng để phát triển bền vững trong tương lai.

Theo đó, định hướng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực môi trường của Bộ TN&MT trong thời gian tới sẽ tiếp tục tập trung nghiên cứu, cung cấp các cơ sở khoa học để hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả thể chế, chính sách, pháp luật về môi trường. quản lý và bảo vệ môi trường.

Cùng với đó, tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các công cụ, mô hình quản lý mới nhằm bảo vệ môi trường và bảo tồn, sử dụng bền vững đa dạng sinh học trong điều kiện hội nhập quốc tế và phù hợp với điều kiện hiện nay. Việt Nam. Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, mô hình dự báo, quan trắc, cảnh báo sớm diễn biến chất lượng môi trường phục vụ công tác quản lý, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học.

Đặc biệt tập trung đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển các giải pháp công nghệ, kỹ thuật phù hợp với điều kiện Việt Nam trong phòng ngừa và xử lý ô nhiễm; cải tạo và phục hồi môi trường; quản lý chất thải; bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học trong bối cảnh thế giới đang đẩy mạnh thực hiện kinh tế tròn, kinh tế xanh, các-bon thấp, hướng tới mục tiêu không phát thải khí nhà kính.

Ngoài ra, việc chủ động nghiên cứu, chuyển giao nghiên cứu, sản xuất các thiết bị quan trắc thông minh, hiện đại là hướng đi tất yếu.

PV: Để nâng cao chất lượng các đề tài nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu và mục tiêu đề ra, chúng ta cần có những giải pháp gì để thực hiện thành công nhiệm vụ khoa học và công nghệ môi trường trong thời gian tới, thưa ông?

Ông Trần Bình Trọng: Để thực hiện thành công các nhiệm vụ KHCN về môi trường trong thời gian tới, cần tăng cường, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ TN&MT, các Sở TN&MT các địa phương, các tổ chức khoa học và công nghệ trong và ngoài nước. . , doanh nghiệp trong việc đặt hàng, thực hiện các dự án cũng như chuyển giao các kết quả nghiên cứu.

Cùng với đó, đặc biệt chú trọng gắn kết chặt chẽ việc tham gia nghiên cứu, đào tạo của các viện nghiên cứu, trường đại học trong nước và quốc tế nhằm tận dụng kiến ​​thức chuyên môn sâu của các chuyên gia giỏi. nâng cao trình độ nghiên cứu của ĐVTN, đồng thời nâng cao chất lượng các đề tài nghiên cứu, ứng dụng các kết quả nghiên cứu mới vào sản xuất và đời sống, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. trường học.

Đặc biệt, cần tăng cường quảng bá, giới thiệu các kết quả, sản phẩm của chương trình nói chung và từng đề tài, dự án nói riêng đến các địa phương, doanh nghiệp để đưa vào thực hiện thông qua các hội thảo khoa học nhằm giới thiệu kết quả nghiên cứu, công bố kết quả nghiên cứu trong các phương tiện thông tin đại chúng.

PV: Xin chân thành cảm ơn!

Leave a Reply

Your email address will not be published.