Nền văn hóa đầu tiên tạo ra nghệ thuật?

Rate this post

Kể từ khi Homo sapiens tiến hóa cách đây khoảng 1,8 triệu năm, họ đã đạt được nhiều tiến bộ trong nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống, đặc biệt là nghệ thuật. Gần 40.000 năm trước, một nhóm Homo sapiens đầu tiên được gọi là Aurignacia bắt đầu tham gia vào việc sáng tạo nghệ thuật ở châu Âu.

Ngay sau khi ngôn ngữ Aurignacia treo cổ Chauvet vào Pháp.  Phải: Claude Valette.

Người Aurignacia di cư từ Đông Phi vào châu Âu trong thời kỳ đồ đá cũ. Đây là lần đầu tiên con người hiện đại [xét về phương diện giải phẫu học] đã rời châu Phi để định cư ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Họ trở thành một phần của một nhóm châu Âu ban đầu được gọi là Cro-Magnons, tồn tại từ 48.000 đến 10.000 năm trước. Các nhà khoa học ước tính rằng dân số Cro-Magnons bao gồm từ 1.700 đến 29.000 người.

Sau khi di cư ra khỏi châu Phi và lan rộng khắp châu Âu, người Aurignacia đã trải qua ba giai đoạn phát triển: Người Aurignacia sơ khai, Người Aurignacia Trung và Người Aurignacia muộn. Thông qua tác phẩm nghệ thuật tượng hình của họ, chúng ta có thể hiểu thêm về tư duy của những người châu Âu sớm nhất trong lịch sử.

Một trong những địa điểm Aurignacian nổi tiếng nhất ở châu Âu là Hang động Aurignac ở tây nam nước Pháp. Hang động này đã được khai quật nhiều lần kể từ cuối những năm 1800 và Pháp đã công nhận nó là di tích lịch sử quốc gia vào năm 1921.

Bằng chứng khảo cổ học về hàng trăm công cụ và hàng thủ công cho thấy người Aurignacians đã biết cách tạo ra những công cụ mới cho công việc, và thậm chí họ có thể đã trao đổi hoặc chia sẻ công cụ với nhau. Công cụ của họ chủ yếu được làm từ các vật liệu phổ biến như đá, gạc (hươu, nai), xương động vật – kim, dao cạo, rìu, và các dụng cụ cầm tay khác, chẳng hạn.

Ngoài việc sử dụng những công cụ này để sinh tồn, người Aurignacians cũng sử dụng chúng cho mục đích tạo ra các tác phẩm nghệ thuật sơ khai như chạm khắc và bản vẽ. Họ đã phát minh ra một công cụ bằng đá gọi là Burin để chạm khắc gỗ, xương và gạc. Vào những năm 1900 và đầu những năm 2000, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra một số tác phẩm chạm khắc trên ngà voi của người Aurignacia có niên đại cách đây khoảng 33.000 năm ở châu Âu. Các bức chạm khắc mô tả nhiều hình dạng, chẳng hạn như voi ma mút, ngựa và sư tử. Đây là bằng chứng cho thấy người Aurignacians có khả năng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật với các chủ đề và mẫu riêng biệt, chứ không phải là những nét vẽ tùy tiện.

Ngoài các tác phẩm chạm khắc trên ngà voi, người Aurignacians còn là tác giả của vô số tác phẩm trên đá cuội. Trong vài năm gần đây, các nhà khảo cổ thậm chí còn phát hiện ra những tác phẩm điêu khắc bằng đất sét tự nhiên của Aurignacian với chủ đề chính là động vật và phụ nữ mang thai.

Những bức tượng nhỏ bằng đất sét miêu tả phụ nữ mang thai thường được gọi là tượng thần Vệ nữ. Điều đặc biệt trên những bức tượng này là phần hông, bụng và ngực nở ra, tượng trưng cho khả năng sinh sản. Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa thể xác định liệu người Aurignacians tạo ra tượng thần Vệ nữ với mục đích thờ cúng hay đơn giản là để cầu may.

Các đồ thủ công khác của Aurignacian bao gồm mặt dây chuyền, vòng tay và vòng cổ bằng ngà voi. Khía cạnh đáng chú ý nhất của nghệ thuật Aurignacian là mong muốn làm cho chúng có thể vận chuyển được, dưới dạng đồ trang sức hoặc tượng nhỏ.

Vòng cổ của người Aurignacian làm từ răng của gấu, ngựa, nai tấm, hải ly được phát hiện tại Mladec, Cộng hòa Séc.  Ảnh: Wolfgang Sauber

Nhờ khả năng sử dụng công cụ và bàn tay khéo léo, người Aurignacians đã chế tạo ra một trong những loại nhạc cụ sớm nhất trong lịch sử. Trong quá trình khai quật nhiều địa điểm khảo cổ ở châu Âu, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những chiếc sáo làm bằng xương động vật. Cây sáo xương cổ nhất, khoảng 35.000 năm tuổi, được tìm thấy ở Đức vào năm 2008. Người Aurignacians đã đục đẽo và chạm khắc nó từ xương cánh của một con kền kền với một lỗ khoan nhỏ để tạo ra những âm thanh khác. cùng với nhau.

Các bức tranh trong hang động Aurignacian không phổ biến như các tác phẩm điêu khắc và chạm khắc.

Tại hang động Chauvet ở Pháp, người ta đã phát hiện ra những hình vẽ bằng than có niên đại ít nhất 36.000 năm. Người Aurignacians cũng sử dụng các bộ phận cơ thể để tạo ra các tác phẩm nghệ thuật. Họ thường đặt tay lên đá và sơn bằng bột màu đỏ xung quanh mép bàn tay, hoặc bôi bột màu lên tay trước khi in lên các bức tường của hang động.

Năm 1994, hai nhà khảo cổ học Jean Clottes và David Lewis-Williams đã tiến hành khảo sát Hang Chauvet, sau đó xuất bản một cuốn sách vào năm 1996 đưa ra những hiểu biết của họ về nghệ thuật hang động Aurignacian. Trong đó, Clottes và Lewis-Williams đã thảo luận về mục đích của các tác phẩm nghệ thuật mà họ cho là tâm linh hoặc một phần của nghi lễ tôn giáo.

Những bàn tay được vẽ trên khắp hang động có thể là một nỗ lực của người xưa để triệu hồi các linh hồn hoặc vị thần ra khỏi đá, hoặc có thể là một cách để giao tiếp với họ. Tuy nhiên, giả thuyết này vẫn đang gây ra nhiều tranh cãi trong giới khảo cổ học.

Clottes và Lewis-Williams cũng phát hiện ra một điều khá thú vị, đó là số lượng tranh vẽ động vật trong hang (tê giác, gấu, bò rừng, sư tử, …) nhiều hơn hẳn tranh vẽ người. . Một số bức tranh có nét vẽ tương tự. Chúng có thể là tác phẩm của cùng một nghệ sĩ hoặc một mẫu phổ biến được nhiều người Aurignacians áp dụng vào thời điểm đó.

Ngoài ra, sư tử thường được nhân cách hóa nhiều hơn các loài khác. Nhiều khả năng những người Aurignacian đầu đã xem sư tử như một con vật cao cấp hơn, tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực.

Các cuộc khai quật khảo cổ học mới trong tương lai có thể khám phá thêm nhiều tác phẩm nghệ thuật của người Aurignacia. Qua đó, chúng ta sẽ có thêm hiểu biết về văn hóa của những người Châu Âu đầu tiên. Chúng tôi cũng có được một bức tranh rõ ràng hơn về lịch sử nghệ thuật, và cách các phong cách nghệ thuật khác nhau đã lan rộng và phát triển theo thời gian.

Leave a Reply

Your email address will not be published.