Nghiên cứu định kỳ về giống cây lâm nghiệp

Rate this post

Để nghiên cứu cải tạo giống cây lâm nghiệp thường mất 20 – 25 năm. Trong khi đó, thời gian thực hiện các đề tài, công trình nghiên cứu quá ngắn.

Nghiên cứu cần có tính kế thừa, kết nối giai đoạn

Trong sản xuất nông lâm nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng cây trồng. Đặc biệt, cây lâm nghiệp rất hạn chế các tác động kỹ thuật như bón phân, tưới nước nên giống cây trồng càng đóng vai trò quan trọng hơn.

Vì vậy, việc nghiên cứu, cải tiến giống cây lâm nghiệp được xác định là hướng ưu tiên, chiến lược nhằm nâng cao giá trị rừng trồng, góp phần tăng thu nhập cho người trồng rừng và nâng cao chất lượng nguyên liệu rừng trồng. công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu.

Nhà nuôi cấy mô cây lâm nghiệp của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quy Nhơn (Bình Định).  Ảnh: Vũ Đình Thung.

Nhà nuôi cấy mô cây lâm nghiệp của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quy Nhơn (Bình Định). Hình ảnh: Vũ Đình Thung.

Cây lâm nghiệp là cây lâu năm, ra hoa đậu quả lâu nên khó khăn trong việc nghiên cứu giống. “Một chu kỳ nhân giống cây rừng thường kéo dài hàng chục năm, nhanh nhất đối với những loài cây có chu kỳ kinh doanh ngắn như keo, bạch đàn cũng phải 10 – 12 năm. Vì vậy, việc cải tạo giống cây lâm nghiệp thường mất 20-25 năm, gồm nhiều kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn 3-5 năm và luôn phải có tính kế thừa ”, PGS.TS Phí Hồng Hải, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chia sẻ.

Từ năm 2010 đến nay, thông qua các đề tài, dự án và các đơn vị nghiên cứu trong ngành Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu, chọn tạo nhiều giống mới với các loài cây nhập nội sinh trưởng nhanh. cây bản địa đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật, giống quốc gia.

Một số giống được chuyển giao vào sản xuất góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế rừng trồng. Theo đó, ngành lâm nghiệp đã được công nhận trên 229 giống, trong đó có 95 giống của 6 loài keo; 85 giống bạch đàn 5 loài; 33 giống của 4 loài tràm; 4 giống thông Caribe; 10 giống Thanh Thất, Chiêu Liêu và 2 giống phi lao.

Vườn cây giống lâm nghiệp đầu ngành của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Hà Thanh Ảnh: Vũ Đình Thung.

Vườn cây giống lâm nghiệp đầu ngành của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Hà Thanh Hình ảnh: Vũ Đình Thung.

Riêng giai đoạn 2010 – 2020, ngành lâm nghiệp đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận 102 giống mới. Đặc biệt, lần đầu tiên một số giống cây trồng lâm nghiệp như: sâm Lai Châu, mắc ca, keo lai, keo tam bội … đã được làm thủ tục và bảo hộ giống. Các giống cây lâm nghiệp mới cho năng suất cao, sinh trưởng bình quân 20 – 40 m3 / ha / năm ở mô hình khảo nghiệm, trong khi giống đại trà bình quân chỉ 12 – 15 m3 / ha / năm. năm.

“Chẳng hạn, giống keo lá tràm AA9 trồng ở Đông Nam Bộ cho năng suất gần 40 m3 / ha / năm, giống này đã được giải thưởng bông lúa vàng năm 2015. Hay như BV523 ở Cam Lộ (Quảng Trị) đạt được. năng suất 35 m3 / ha / năm; giống UP 164, UP180, UP 190, UP171 tại Yên Thế (Bắc Giang) đạt từ 29-35 m3 / ha / năm. Một số giống PB7, PB48, PB55 ở Hàm Thuận Nam (Bình Thuận) đạt 35-40 m3 / ha / năm. Các giống cây trồng mới của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam được đưa vào sản xuất đã góp phần quan trọng vào việc phát triển rừng trồng ”, PGS.TS. PGS.TS Phí Hồng Hải.

Vườn ươm keo cấy mô chất lượng cao của Doanh nghiệp Nguyên Hạnh, một trong 3 đơn vị có phòng nuôi cấy mô tại Bình Định.  Ảnh: Minh Hậu.

Vườn ươm keo cấy mô chất lượng cao của Doanh nghiệp Nguyên Hạnh, một trong 3 đơn vị có phòng nuôi cấy mô tại Bình Định. Hình ảnh: Minh Hậu.

Hiện mới có 45 giống cây lâm nghiệp được trồng, chiếm gần 20% số giống được công nhận. Theo PGS. PGS.TS Phí Hồng Hải, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, đó là chưa có điều kiện xây dựng các mô hình ở quy mô sản xuất để đánh giá, cũng như quảng bá rộng rãi nên chưa được đưa vào danh mục. . sản xuất hàng loạt. Một số giống có năng suất, chất lượng tốt nhưng không nhân giống được, hiệu quả nhân giống thấp nên không phát triển được quy mô sản xuất, giống đã được công nhận nhưng chưa chuyển giao sản xuất nên không phát triển được. . có thể phát triển.

Thời gian nghiên cứu quá ngắn

Theo Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, hiện cả nước có 744 đơn vị, hộ gia đình đăng ký sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp. Trong đó, có 229 cơ sở thuộc ban quản lý rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp sản xuất, chiếm khoảng 20% ​​số lượng cây giống hàng năm; 515 công ty tư nhân và hộ gia đình sản xuất, chiếm khoảng 80% số lượng cây giống cung cấp cho trồng rừng.

Cả nước có 632 vườn ươm cố định, 1.063 vườn ươm tạm thời và 37 nhà nuôi cấy giống cây trồng lâm nghiệp. Trong đó, các đơn vị nhà nước quản lý 191 vườn ươm kiên cố, 65 vườn ươm tạm thời và 24 nhà nuôi cấy mô. Doanh nghiệp đang quản lý 332 cơ sở ươm tạo cố định, 59 vườn ươm tạm thời và 8 nhà nuôi cấy mô. Hộ gia đình quản lý 392 vườn ươm cố định, 933 vườn ươm tạm thời và các tổ chức xã hội khác quản lý 33 vườn ươm cố định, 6 vườn ươm tạm thời.

Nhân viên Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quy Nhơn chăm sóc giống cây lâm nghiệp để trồng rừng.  Ảnh: Vũ Đình Thung.

Nhân viên Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quy Nhơn chăm sóc giống cây lâm nghiệp để trồng rừng. Hình ảnh: Vũ Đình Thung.

Năng lực sản xuất của các vườn ươm nêu trên đạt hơn 1,7 tỷ cây giống / năm, năng lực sản xuất của các nhà nuôi cấy mô chỉ đạt 78,8 triệu cây giống / năm. Các trung tâm sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp chủ yếu nằm ở các vùng trồng rừng thế mạnh như vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.

Theo PGS. PGS.TS Phí Hồng Hải, những công trình nghiên cứu, cải tiến giống cây lâm nghiệp gắn với nhu cầu thực tế nên giống mới được người trồng rừng đón nhận. Nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng bằng nuôi cấy mô và giâm cành cũng được tiến hành song song với nghiên cứu nhân giống. Vì vậy, khi đi vào sản xuất, các loại giống mới đã phát huy hiệu quả. Công tác chuyển giao giống và công nghệ nhân giống cũng được thực hiện tốt, các cơ sở nhận chuyển giao từng bước nhân giống thành công và phát triển mạnh mẽ trong sản xuất.

Tuy nhiên, theo PGS.TS. PGS.TS Phí Hồng Hải, công tác chọn, tạo và phát triển giống cây lâm nghiệp trong thời gian qua còn một số tồn tại, hạn chế như: Công tác nghiên cứu, chọn tạo, lai tạo các giống cây bản địa tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa đã đi vào trọng tâm, mức độ đầu tư chưa cao. Chẳng hạn, công tác nghiên cứu một loài cây bản địa chỉ khoảng 5 năm, trong khi chu kỳ kinh doanh của cây bản địa kéo dài hàng chục năm nên không có nhiều giống cây bản địa tốt để trồng rừng.

Vườn cây giống của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quy Nhơn (TP Quy Nhơn, Bình Định) để phục vụ trồng rừng FSC.  Ảnh: Minh Hậu.

Vườn cây giống của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quy Nhơn (TP Quy Nhơn, Bình Định) để phục vụ trồng rừng FSC. Hình ảnh: Minh Hậu.

Ngoài ra, nhóm giống mới chủ yếu phục vụ cho công tác trồng rừng ở đồng bằng, thiếu trầm trọng giống để trồng rừng ở các vùng cao cũng như các địa bàn khó khăn.

Bên cạnh đó, mặc dù đã chọn lọc và công nhận nhiều giống nhưng tỷ lệ sử dụng giống mới trong trồng rừng còn thấp, do chưa có mô hình trình diễn quy mô lớn, chuyển giao còn hạn chế. Việc sản xuất giống cây lâm nghiệp nuôi cấy mô còn rất hạn chế so với giống và giâm cành do giá thành cây giống cấy mô cao hơn nhiều so với giống và giâm cành.

Theo PGS. PGS.TS Phí Hồng Hải cho biết, thời gian tới, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam sẽ đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, chọn tạo giống mới có năng suất, chất lượng; ưu tiên nghiên cứu, chọn tạo giống mới chống chịu sâu bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu, giống cây bản địa sinh trưởng nhanh, có năng suất, chất lượng phục vụ rừng trồng gỗ lớn.

Keo lai nuôi cấy mô sinh trưởng nhanh hơn, đường kính, chiều cao và đường kính gốc lớn gấp 1,5 lần so với keo giâm cành.  Ảnh: Vũ Đình Thung.

Keo lai nuôi cấy mô sinh trưởng nhanh hơn, đường kính, chiều cao và đường kính gốc lớn gấp 1,5 lần so với keo giâm cành. Hình ảnh: Vũ Đình Thung.

“Chúng tôi sẽ rà soát, quy hoạch hệ thống rừng giống, vườn giống, vườn ươm để đảm bảo cung cấp giống tốt cho phong trào trồng rừng gỗ lớn của từng vùng. Quản lý chặt chẽ nguồn giống, đảm bảo nguồn giống gốc, giống phục tráng luôn được phục tráng tốt, quản lý chặt chẽ chất lượng giống theo chuỗi hành trình giống.

Viện sẽ đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa các cơ sở nghiên cứu, sản xuất giống cây lâm nghiệp; nâng cao năng lực khoa học công nghệ về quản lý chất lượng giống cho các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, cơ quan quản lý giống cây trồng lâm nghiệp cấp tỉnh, cấp huyện và các cơ sở sản xuất giống trên cả nước ”, PGS.TS Phí Hồng Hải cho biết.

Leave a Reply

Your email address will not be published.