Niềm vui của cuộc sống báo chí

Rate this post

Súng trong tay, bút trong tay

Những năm 1961-1965, tôi nhập ngũ, được biên chế vào Tiểu đoàn 1 (Ba Lòng) của Sư đoàn 270 làm nhiệm vụ bảo vệ vĩ tuyến 17 thuộc Đặc khu Vĩnh Linh.

Lúc đó, tuy là bộ đội nhưng với vốn văn hóa của một học sinh cấp 3, tôi rất mê viết. Một số bài báo đầu tiên của tôi về tấm gương cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị cố gắng rèn luyện, đạt thành tích cao trong huấn luyện quân sự và làm người tốt việc tốt đã được đăng trên báo Quân khu 4, Quân đội nhân dân. , được anh em trong đơn vị vô cùng hào hứng.

Rồi không biết từ đâu, tôi được cả tiểu đoàn đặt cho biệt danh là “nhà báo”! Mỗi lần đại đội, tiểu đoàn tổ chức hội thao, kiểm tra kỹ, chiến thuật cuối tuần, tôi đều được lãnh đạo yêu cầu đứng ngoài hàng quân theo dõi, ghi chép để viết tin cho các báo. Sau đó, được học sĩ quan, tốt nghiệp loại ưu với quân hàm thiếu úy, năm 1965 tôi được điều động về công tác tại sư đoàn 320B, Quân khu 3, càng có đủ điều kiện theo đuổi nghiệp cầm bút.

Chúc mừng sinh nhật

Tác giả đang xem lại tác phẩm đoạt giải C Giải Báo chí Quốc gia năm 1995.

Thời kỳ này, sư đoàn được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ đào tạo cán bộ từ cấp trung đội đến cấp tiểu đoàn để làm cán bộ khung bổ sung cho chiến trường miền Nam. Mang mật danh là Đoàn 32, đơn vị đóng quân trong một khu rừng già rất kín đáo, trải dài từ hai huyện Kỳ Sơn và Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình.

Trước yêu cầu tăng cường bộ đội chủ lực mạnh mẽ cho chiến trường B để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, Đoàn ta bước vào những ngày huấn luyện hết sức ráo riết, khẩn trương. Trong ngày, từ Bộ Tư lệnh xuống các trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội đều tham gia huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật. Thời gian mỗi khóa học chỉ từ 3-6 tháng nhưng với chương trình học rất cao. Yêu cầu đặt ra đối với cán bộ các cấp là phải nắm chắc các trang bị, khí tài bộ binh mới nhất, hiện đại nhất do các nước trong khối xã hội chủ nghĩa chuyển giao cho quân đội ta; Đồng thời, mỗi người phải hiểu rõ các thủ đoạn chỉ huy tác chiến của cấp mình ở các địa điểm khác nhau với quân Mỹ trên chiến trường miền Nam.

Để có đủ sức bền, dẻo dai hành quân suốt mấy tháng trời từ Bắc chí Nam, đêm nào cũng vậy, dù mưa hay nắng, ai cũng với túi đầy đá phía sau, trên tay là chiếc gậy Trường Sơn, đi bộ suốt 3-4 tiếng đồng hồ. Băng xô (sau này là ba lô đá) được tăng dần khối lượng, từ 12kg lúc đầu lên 18-20kg sau khoảng 3 tháng luyện tập.

Huấn luyện vất vả, cực khổ nhưng bù lại, là đơn vị đặc công duy nhất của toàn quân lúc bấy giờ nên chúng tôi rất được ưu ái về mặt hậu cần. Có thể nói, đâu là những nhu yếu phẩm mới nhất, bổ dưỡng nhất của quân đội các nước tài trợ như đường, bột trứng, bột canh gà, bột đậu xanh cao cấp, thực phẩm khô ép thành bánh, các loại thịt cá đóng hộp ngon nhất và cá đóng hộp, trên hết, được cung cấp đầy đủ.

Không khí háo hức ra trận, hăng say huấn luyện, chiến thuật bao trùm các đơn vị, cán bộ các cấp. “Thao trường đổ mồ hôi nhiều, chiến trường đổ máu ít” Đó không chỉ là khẩu hiệu mà đã trở thành tâm niệm, lời nhắc nhở đối với mỗi người. Từ đây, nhiều ví dụ điển hình xuất hiện.

Thời gian này, kỹ năng viết báo của tôi đã tiến bộ dần sau khi được đơn vị cử đi học các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ do Báo Quân khu Ba, Báo Quân đội nhân dân tổ chức. Và nhờ đó, tôi đã viết và đăng nhiều bài báo ở các chuyên mục sau: “Người tốt việc tốt”phản ánh, phóng sự, “Ống kính chụp nhanh” trên các báo trong lực lượng vũ trang.

Hầu như năm nào tôi cũng được Báo Quân đội nhân dân, Báo Tiền phong, Báo Quân khu Ba khen thưởng là cộng tác viên xuất sắc. Dù tập luyện rất chăm chỉ và gian khổ nhưng bất cứ khi nào rảnh rỗi, tôi lại ngồi vào bàn viết. Những việc làm và hành động dũng cảm của đồng đội; Tình yêu lính hết mực của cán bộ các cấp… cứ lặp đi lặp lại trong đầu, thôi thúc tôi viết cho quên đi mệt nhọc.

Những năm tháng chiến tranh, những ngày huấn luyện chuẩn bị vào chiến trường B và nhất là những ngày đêm cùng đơn vị hành quân từ Nho Quan (Ninh Bình) vào đánh giữ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 là khoảng thời gian đáng tự hào. sảng khoái và thăng hoa nhất trong cuộc đời làm báo của tôi.

Hai công việc, một niềm vui

Cuộc đời làm báo của tôi có nhiều kỷ niệm vui buồn; Mỗi bài báo đều gắn với nhiều mảnh đời, nhiều số phận. Nhưng điều tôi tự hào nhất, trong đó có hai tác phẩm thực sự có ích cho đời, đã góp phần tạo nên thương hiệu của nhà báo trong lòng độc giả.

Tháng 7 năm 1969, trong một đêm cùng đồng đội ở Ban Tác chiến Sư đoàn 320B vật lộn với bão lớn, bảo vệ kho quan trọng chuẩn bị cấp phát cho các đơn vị trong chiến dịch, tôi phát hiện ra tấm gương quên mình làm nhiệm vụ của Thượng sĩ Thiếu tá Vũ. Vạn Cân. Trên đường đi làm về, mặc dù phải đạp xe hơn 70 cây số, vừa đói vừa mệt nhưng khi nghe tin bão lớn sắp đổ bộ vào khu căn cứ của đơn vị, mặc dù trời mưa. gió, và bóng tối, Cần vẫn cố gắng hết sức mình. Xe đến cho kịp mọi người cứu kho, cứu hàng.

Hình ảnh anh bất chấp hiểm nguy, giá rét, dù chân bị xà va vào người chảy nhiều máu, vẫn nén đau thương cùng đồng đội chiến đấu xuyên đêm trắng, cứu kho, cứu cả 4 người khiến tôi rất xúc động. Ngay sáng hôm sau, tôi đã viết một loạt bài: “Vũ Văn Cẩn hết lòng cứu người, cứu hàng” sau đó đạp xe đến Bưu điện huyện Nho Quan (Ninh Bình) gửi ngay cho Báo Quân khu Ba.

Hai tháng sau, một bản tin qua điện thoại của anh Trần Kiệm và chị Tô Phương ở Ban Biên tập Báo Quân khu làm tôi vui mừng khôn xiết: Bài báo vinh dự được Bác Hồ đọc và viết bên cạnh bằng mực đỏ. bản thân anh ấy. : “Thưởng 1 H2” (tức là huy hiệu mang chân dung Bác Hồ).

Cũng chính hai anh này, vào đúng ngày 19/5/1970, lái chiếc Sisdca (xe máy 3 bánh) của tòa soạn đến đơn vị để giao cả bài báo có bút tích của Bác và Huy hiệu của tác giả. đến Bộ Tư lệnh Sư đoàn để trao cho Vũ Văn Cẩn. Xúc động hơn nữa, sau này, khi về làm việc tại tòa soạn, tôi mới biết đó là huy hiệu Bác ký tặng cho tấm gương. “Người tốt việc tốt” lần cuối cùng trước khi anh về cõi thần tiên đúng 2 tháng!

Chiều tháng 6/1994, khi đang trao đổi về Hội Nhà báo Hà Tĩnh với ông Lê Xuân Thu – Phó Chủ tịch Thường trực Hội, bất ngờ có một người khách tên Phan Sung ghé vào gặp tôi để trình bày hoàn cảnh đáng thương của mình. của một người bạn. Thương binh Trần Tài – người trong câu chuyện, ở cùng quê với vợ.

Sau những năm tháng chiến đấu anh dũng, bị chấn thương sọ não do bom Mỹ, anh trở về quê hương với hai bàn tay trắng, không được hưởng chế độ gì. Ngày qua ngày, anh phải ra chợ Thượng (huyện Đức Thọ) gánh nước thuê cho các quán ăn, hoặc tắm rửa, chôn cất những người xấu số bị tàu hỏa đâm chết, kiếm vài chục nghìn sinh mạng. ngày. Mỗi lần vết thương hành hạ anh lại lên cơn tinh thần, vật vã, la hét một mình, trông rất đáng thương.

Câu chuyện của anh Sung đã thu hút tôi như một thỏi nam châm. Là một người lính với gần 30 năm phục vụ, tôi thực sự thấy tiếc cho Trần Tài. Chỉ sau ba ngày trở về, Đức Thọ đã gặp Tài và một số người liên quan ở quê, Bộ Tư lệnh Quân khu Bốn… tôi chỉ mất một ngày để viết, đã viết được tiêu đề bài báo.“Đồng chí của tôi”. Riêng tác phẩm này, tôi đã vinh dự được 2 giải A – một của cuộc thi Báo Quân đội nhân dân. “Viết về kỷ niệm 40 năm Bộ đội Cụ Hồ” sâu sắc, một trong những Giải Báo chí Hà Tĩnh. Vinh dự hơn, năm 1995 tôi được giải C Giải Báo chí Quốc gia cho tác phẩm trên.

Không chỉ là những giải thưởng, điều mà tôi thực sự xúc động là sau khi đọc bài báo này, ông Trần Đình Dần – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, một cựu chiến binh, đã tự tay viết lá thư kèm theo bài báo đó gửi Bộ trưởng Bộ. LĐ-TB & XH Nguyễn Thị Hằng và Giám đốc Sở LĐ-TB & XH tỉnh, Chủ tịch UBND huyện Đức Thọ đề nghị xem xét, chỉ đạo giải quyết chế độ cho đồng chí Trần Tài. tại xã Liên Minh, huyện Đức Thọ. Tiếc thay, khi chế độ của Nhà nước đến tay ông đã ra đi trước đó đúng 3 ngày!

Người thân, lãnh đạo địa phương và cả tác giả bài báo đã đặt tấm thẻ thương binh lên bàn thờ hương khói của anh với niềm tiếc thương khôn nguôi. Vì mọi sự biết ơn đã quá muộn màng. Tuy nhiên, điều an ủi chúng tôi, cả người viết và những người trong cuộc là kể từ đây, Trần Tài chính thức có chế độ hương khói của một thương binh để bà con tưởng nhớ vào những ngày lễ, Tết!

Khắc Hiền

Leave a Reply

Your email address will not be published.