Tại sao nhà văn viết? | Văn hóa – Đời sống

Rate this post

Khi còn là một đứa trẻ cô đơn, anh ấy đã bịa ra những câu chuyện và pha chế các cuộc đối thoại với các nhân vật tưởng tượng. Mong muốn viết của anh có liên quan đến cảm giác cô đơn thời thơ ấu. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, chàng trai trẻ George đã có hai bài thơ được đăng trên tờ báo địa phương và đó là bước khởi đầu cho sự nghiệp văn chương của anh.

Ở tuổi thiếu niên, Orwell đã nghĩ như một nhà văn và bịa ra những câu chuyện về bản thân nhưng không bao giờ viết ra. Ở tuổi 20, ông có tham vọng viết “những cuốn tiểu thuyết về chủ nghĩa tự nhiên vĩ đại với những kết thúc không hạnh phúc, đầy những miêu tả chi tiết và những so sánh bắt mắt với những đoạn văn hoa mỹ.” thẩm mỹ, trong đó từ ngữ được sử dụng một phần để tạo nhịp điệu riêng ”. Orwell gọi tác phẩm hư cấu đầu tiên của mình, “Những ngày ở Miến Điện” là mẫu mực của thể loại này.

Trong bài luận của mình, Orwell nêu ra 4 động lực chính thúc đẩy người viết, trong đó bản chất ích kỷ được ông phân tích khá chi tiết. Nhìn chung, các nhà văn có chung đặc điểm này với các nhà khoa học thành đạt, nghệ sĩ, chính trị gia, luật sư, quân nhân, doanh nhân – nói ngắn gọn là tầng lớp ưu tú của nhân loại.

Sau 30 tuổi, họ gần như dập tắt tham vọng cá nhân và trong nhiều trường hợp, họ gần như từ bỏ cảm giác tồn tại cá nhân. Nhưng một số ít người tài năng, có ý chí, quyết tâm theo đuổi đến cùng và các nhà văn đều thuộc tầng lớp này. Theo Orwell, những nhà văn nghiêm túc thường viển vông và tự cho mình là trung tâm hơn các nhà báo, mặc dù ít quan tâm đến tiền bạc hơn.

Tại sao nhà văn viết?  ảnh 14 lý do khiến người viết cầm bút. Nguồn: Tại sao tôi viết, George Orwell, 1964.

Lý do thứ hai khiến nhà văn viết là cảm nhận về vẻ đẹp thế giới bên ngoài, ngôn ngữ và cấu trúc chuẩn mực. Động cơ làm đẹp khá yếu đối với hầu hết các nhà văn, nhưng ngay cả một nhà văn hay sách giáo khoa nghị luận chính trị cũng sẽ có những từ và cụm từ yêu thích vì một lý do ngớ ngẩn nào đó, hoặc đơn giản là bị ấn tượng bởi phông chữ hoặc độ rộng của lề …

Nhà văn cũng mong muốn phản ánh hiện thực và trình bày sự thật cho người đọc, thay đổi quan điểm của mọi người về loại xã hội mà họ muốn sống. Tuy nhiên, điều này cũng có mức độ, vì nhà văn nào cũng phải chấp nhận một số lập trường chính trị. Ông viết: “Không có cuốn sách nào không có thành kiến ​​chính trị. Ý tưởng rằng nghệ thuật không nên liên quan gì đến chính trị là một thái độ chính trị tự bản thân nó. “

Nếu những động lực sáng tác nêu trên có phần cao siêu thì nhiều nhà nghiên cứu, phê bình lại có cái nhìn thực tế, gần gũi với đời sống hơn. Trong bài “Tính nghề nghiệp của nhà văn” đăng trong cuốn “Đề cương văn học Việt Nam hiện đại (thế kỷ 20)”, tác giả GS Phong Lê nhìn nhận: “Khi văn chương đã trở thành nhu cầu của xã hội thì viết văn sẽ trở thành một nghề”. .

Vì vậy, để tồn tại với nghề, một nhà văn phải viết hay, cho người đọc, và từ đó tất yếu diễn ra sự cạnh tranh nghề nghiệp. Ngoài ra, dấn thân vào sự nghiệp văn chương cũng rất gian nan và rủi ro vì phải phó mặc cho thị trường. Nhà văn phải viết cho người khác đọc chứ không phải để “nói chuyện” hay “hướng dẫn” cho mình.

Tuy nhiên, theo GS. Theo Phong Lê, văn chương là một nghề hấp dẫn và có sức hút mãnh liệt khiến nhiều người gác lại danh vọng, danh vọng hay tiền bạc để dấn thân vào. Ông dẫn chứng nhóm Tự Lực Văn Đoàn (1930-1945), trong đó Nguyễn Trường Tam đã từ bỏ tấm bằng kỹ sư và ghế giáo sư với mức lương cao để trở thành người sáng lập và ông chủ với bút danh Nhất Linh.

Nhiều nhà văn như Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao … đã chấp nhận cuộc sống thanh đạm để theo đuổi sự nghiệp sáng tác với những quan niệm và mục tiêu văn học khác nhau. Đói nghèo triền miên là hình ảnh tiêu biểu của nhiều nhà văn kể từ khi văn học xuất hiện trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt Nam. Vì vậy, trước áp lực kinh tế, người viết thường phải có công việc khác để nuôi sống bản thân hoặc chăm sóc gia đình.

Nhắc đến những lý do khiến nhà văn có thể viết được của George Well trong phần đầu của bài viết này, chắc hẳn chúng ta sẽ thấy rằng các nhà văn Việt Nam thường bị thu hút bởi hiện thực và lịch sử. Theo quan sát của anh Phong Lê qua hai cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn đầu thế kỷ XXI, số tác phẩm tham gia và đoạt giải viết về đề tài chiến tranh chiếm tỷ lệ cao.

Những nhà văn ở độ tuổi 50 và 60, với những trải nghiệm sâu sắc về cuộc sống khó khăn thời hậu chiến, đã nhanh chóng thoát ra khỏi âm hưởng sử thi đã chế ngự nhiều tên tuổi đi trước họ. Các nhà văn sinh ra và lớn lên sau chiến tranh kể những câu chuyện về quan điểm sống, lý tưởng, mục tiêu sống, quan niệm nghề nghiệp của họ trên một quỹ đạo khác, với khát vọng giải phóng và phát triển đến cùng những gì họ chưa từng thấy. riêng.

Tuy nhiên, theo GS. Phong Lê, dù có khát khao mưu cầu cháy bỏng đến đâu, thì các nhà văn thuộc mọi thế hệ đều phải đặt mình vào một mẫu số chung là “tình cảnh, số phận chung của nhân dân, của đất nước”. GS. Lê cho rằng nhận dạng trong văn học là nhận dạng qua con người, qua tính cách, số phận của từng cá nhân cụ thể. Ngoài việc không thể xa lánh, quay lưng với ý nghĩa thời sự là nỗ lực giữ gìn từng tấc đất, tấc rừng, hải lý của Tổ quốc, một nhà văn còn phải thể hiện tình yêu thương con người, bảo vệ phẩm giá con người. và lên tiếng chống lại những bất công xã hội vẫn còn đầy rẫy, những chia rẽ xã hội ngày càng gay gắt, tội ác, tham nhũng, tước đoạt và hủy hoại môi trường sống.

Theo hướng đó, nhà văn phải hòa mình vào hiện thực và xắn tay áo vào những vấn đề đương đại, như nhà văn Nam Cao đã nói: “Hãy sống và viết… để cống hiến cho những công việc ngoài nghệ thuật ngay từ bây giờ là chuẩn bị cho mình một nghệ thuật cao hơn. ”

Lê Hữu Huy, Giám đốc Công ty Tư vấn Mạng Toàn cầu Việt Nam, Singapore

Leave a Reply

Your email address will not be published.