Thúc đẩy hợp tác công tư trong xử lý nước thải và chất thải rắn

Rate this post

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2021, tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại 45/63 tỉnh / thành phố khoảng 51.586 tấn / ngày. Trong đó, khu vực thành thị phát sinh khoảng 31.381 tấn / ngày và khu vực nông thôn khoảng 21.667 tấn / ngày.

HỆ THỐNG XỬ LÝ CHẤT THẢI NGHÈO

Ước tính, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tăng 10-16% / năm. Ở khu vực thành thị, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đạt cao, khoảng 96,28% (Hà Nội 98,79%, TP. Hồ Chí Minh gần 100%).

Tính đến nay, cả nước có 1.322 cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt, trong đó có 381 lò đốt chất thải rắn sinh hoạt, 37 dây chuyền chế biến compost, 904 bãi chôn lấp, trong đó có nhiều bãi chôn lấp không đảm bảo vệ sinh.

Tuy nhiên, lượng chất thải rắn sinh hoạt này chủ yếu vẫn được xử lý bằng phương pháp chôn lấp (khoảng 71%). Trong khi việc đầu tư phát triển hệ thống xử lý chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu sử dụng vốn ngân sách nhà nước (trong đó vốn vay ODA là chính) thì nguồn vốn của khu vực kinh tế tư nhân tham gia đầu tư còn thấp. Rất khiêm tốn.

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, đối với chi phí xử lý chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay do Chính phủ tài trợ 75%.

Đối với nước thải công nghiệp, đến năm 2021, Việt Nam có khoảng 846 đô thị, 290 khu công nghiệp, 697 cụm công nghiệp, hơn 120.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, 20.310 trang trại chăn nuôi, hơn 5.106 doanh nghiệp khai thác khoáng sản. khoáng sản, vật liệu xây dựng, 4.575 làng nghề, hơn 13.500 cơ sở y tế … Mỗi ngày, số cơ sở này thải ra môi trường khoảng 650.000 m3 nước thải công nghiệp.

Nguồn thải công nghiệp có lưu lượng xả lớn hơn 1.000m3 có khoảng 60 cơ sở, nguồn thải có lưu lượng xả từ 200m3 đến 1.000m3 có khoảng 345 cơ sở.

Một con số đáng thương khác, 88% trong tổng số 697 cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 9% trong tổng số 290 khu công nghiệp đang hoạt động chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

Tại hội thảo “Mô hình hợp tác công tư trong xây dựng và vận hành nhà máy xử lý nước thải và chất thải rắn tại Việt Nam” do Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), Tổng Liên đoàn Công Thương, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) tổ chức . Ngày 5/7, ông Nguyễn Thượng Hiền, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ TN&MT đã nêu ra những thách thức, khó khăn trong xử lý ngành công nghiệp Việt Nam và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID). chất thải.

Trước hết là do cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được tình hình thực tế. Giá dịch vụ xử lý nước thải và chất thải rắn còn thấp (suất đầu tư xử lý nước thải công nghiệp bình quân từ 20.000.000 – 30.000.000 đồng / m3), trong khi chi phí vận hành, bảo dưỡng hệ thống xử lý còn thấp. đòi hỏi kinh phí cao và liên tục.

Đặc biệt, cơ chế huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân chưa hiệu quả, thiếu các cam kết, hỗ trợ cụ thể nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thông thoáng, an toàn cho các nhà đầu tư. Một số loại chất thải rắn sinh hoạt nhập khẩu không phù hợp với thực tế.

Hơn nữa, chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam chưa được phân loại tại nguồn. Các địa phương đang áp dụng các mức giá xử lý khác nhau đối với các phương pháp xử lý khác nhau.

PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC TƯ NHÂN TRONG XỬ LÝ CHẤT THẢI

Theo TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, riêng lĩnh vực xử lý nước thải, chỉ tiêu tăng từ 15% lên 70% (theo Nghị quyết số Đại hội XIII) trong 10 năm tới cần vốn đầu tư rất lớn, từ 10 – 20 tỷ USD.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, ông Lộc cho rằng cần tìm ra các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, đồng thời nâng cao vai trò của cộng đồng, thực hiện xã hội hóa để phát huy mọi nguồn lực tham gia quản lý nước thải. và chất thải rắn ngày càng tốt hơn.

“Tuy nhiên, trước đây, việc triển khai hợp tác công tư trong lĩnh vực xử lý nước thải và chất thải rắn chưa nhiều, có một số dự án thực hiện theo mô hình BT (xây dựng – chuyển giao). chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế ”, ông Lộc nhấn mạnh.

Theo ông Lộc, mô hình BTL (xây dựng – chuyển giao – thuê dịch vụ) được coi là mô hình hiệu quả nhất trong số các hợp đồng đối tác công tư trong lĩnh vực xử lý nước thải và chất thải rắn với chi phí hợp lý. Vì các cơ sở văn hóa, giáo dục và phúc lợi bao gồm cả các công trình xử lý nước thải không mang lại lợi nhuận, nên tổng chi phí của dự án được hoàn trả thông qua phí thuê địa phương và chính phủ, không phải chi phí bỏ ra. phí sử dụng. Hệ thống này giúp giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư và mang lại cơ hội đầu tư ổn định.

“Như vậy, kể cả trước khi Luật được ban hành và sau khi Luật PPP có hiệu lực, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực xử lý nước thải và chất thải rắn vẫn chưa được thông qua. đã triển khai rất nhiều ở Việt Nam ”, ông Lộc nói.

Cùng chung quan điểm, ông Hiển nhấn mạnh, việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải tốn kém khá nhiều, nhiều tỷ đồng… nên cần đẩy mạnh hợp tác công tư trong vấn đề này.

Ông Hiển đề nghị, cần xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng hợp lý, hình thành khung pháp lý rõ ràng cho PPP, bao gồm cả cơ chế, chính sách về tín dụng và phí. dịch vụ, đất đai, … để thu hút đầu tư tư nhân.

Đồng thời, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách cùng với hướng dẫn chi tiết các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước trong lĩnh vực xử lý nước thải và chất thải rắn. đô thị.

Việc xây dựng và ban hành hướng dẫn quy trình lựa chọn nhà đầu tư các dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư áp dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường cần được thực hiện ngay. .

Đặc biệt, cần đẩy mạnh hình thức đấu thầu rộng rãi để lựa chọn nhà đầu tư, ưu tiên đấu thầu rộng rãi quốc tế; hạn chế tối đa việc chỉ định thầu. Đối với nhà đầu tư được lựa chọn thông qua hình thức đấu thầu, Nhà nước và nhà đầu tư đàm phán các nội dung quan trọng, nhất là việc phân công trách nhiệm và cơ chế phối hợp.

Leave a Reply

Your email address will not be published.