Đồng Tháp 5 loại hình sinh kế để phát triển bền vững

Rate this post

Đồng Tháp triển khai Tiểu dự án “Nâng cao năng lực thoát lũ và phát triển sinh kế bền vững, thích ứng với khí hậu cho vùng Đồng Tháp Mười, thuộc Dự án ICRSL”.

Tiểu dự án Nâng cao năng lực thoát lũ và phát triển sinh kế bền vững, thích ứng với khí hậu cho vùng Đồng Tháp Mười, thuộc Dự án ICRSL đã được UBND tỉnh Đồng Tháp phê duyệt từ tháng 10/2018 đến nay. Hình ảnh: Trọng Linh.

12 mô hình và 5 loại hình sinh kế

Ông Võ Thành Ngoạn, Phó Giám đốc Sở NN & PTNT tỉnh Đồng Tháp kiêm Giám đốc Ban Quản lý Tiểu dự án ICRSL Đồng Tháp, cho biết: Tiểu dự án Nâng cao năng lực thoát lũ và phát triển sinh kế bền vững, thích ứng với khí hậu cho Đồng Tháp Vùng Mười thuộc Dự án ICRSL được UBND tỉnh Đồng Tháp phê duyệt từ tháng 10/2018 đến nay.

Theo đó, tiểu dự án sẽ được triển khai tại 4 huyện, thành phố với tổng diện tích 115 ha, gồm: huyện Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình và Hồng Ngự, với 12 mô hình và 5 loại hình sinh kế. Trong đó có 8 mô hình 2 vụ lúa – 1 vụ cá, còn lại là mô hình 2 vụ lúa -1 vụ tôm, mô hình 2 lúa + vịt – 1 vụ cá, mô hình 2 màu – 1 cá và mô hình lúa. mùa – tôm / cá.

Đánh giá về hiệu quả của từng mô hình, Phó Giám đốc Sở NN & PTNT – kiêm Giám đốc Ban quản lý Tiểu dự án ICRSL tỉnh Đồng Tháp – Võ Thành Ngoan cho biết: Đối với mô hình trung bình 2 vụ lúa – 1 vụ cá. tổng lợi nhuận đạt hơn 57 triệu đồng / ha / năm, trong đó sản xuất lúa cho lãi hơn 52 triệu đồng / ha, cá thu lãi 5 triệu đồng / ha.

Theo ông Ngoan, so với ngoài mô hình, tổng lợi nhuận tăng 15,4 triệu đồng / ha / năm, trong đó lãi từ sản xuất lúa tăng 10,4 triệu đồng / ha do áp dụng các biện pháp kỹ thuật, giảm chi phí đầu vào. , sản xuất giống, liên kết tiêu thụ đầu ra …

Đối với mô hình 2 vụ lúa - 1 vụ cá, tổng lợi nhuận bình quân hơn 57 triệu đồng / ha / năm, trong đó sản xuất lúa cho lãi trên 52 triệu đồng / vụ, cá cho lãi 5 triệu đồng. Đồng / ha.  Ảnh: Trọng Linh.

Đối với mô hình 2 vụ lúa – 1 vụ cá, tổng lợi nhuận bình quân hơn 57 triệu đồng / ha / năm, trong đó sản xuất lúa cho lãi trên 52 triệu đồng / vụ, cá cho lãi 5 triệu đồng. Đồng / ha. Hình ảnh: Trọng Linh.

Đối với mô hình 2 vụ lúa – 1 vụ cá, đây được xem là mô hình mang lại hiệu quả cao trong hoạt động khai thác thủy sản mùa lũ ở ấp Bình Hòa Hạ, xã Thường Lạc, huyện Hồng Ngự (tỉnh Đồng Tháp). . Tổng lợi nhuận của mô hình đạt 53,4 triệu đồng / ha, trong đó lợi nhuận từ nuôi và khai thác thủy sản là 21,5 triệu đồng / ha / năm. So với ngoài mô hình, lợi nhuận tăng thêm 22,7 triệu đồng / ha. .

Đây là mô hình có điều kiện khá thuận lợi, diện tích đầu nguồn, địa hình thấp, nước lũ về sớm hơn các mô hình khác, cá tự nhiên khá nhiều. Đặc biệt, người nuôi có vốn đầu tư lớn, chủ động tìm hiểu giá bán, nơi tiêu thụ, ương, nuôi, thả cá giống sớm, giăng lưới dụ cá tự nhiên kịp thời khi có lũ. Ngoài ra còn có hệ thống mương bao quanh ruộng để nuôi cá đến khi đạt trọng lượng và thu hoạch khi giá bán cao.

Đối với mô hình 2 vụ lúa + vịt – cá, đây là mô hình cho hiệu quả tốt nhất trong các mô hình tiểu dự án. Tổng lợi nhuận của mô hình đạt trên 100 triệu đồng / ha / năm, tăng hơn 52 triệu đồng / ha so với ngoài mô hình. Lợi nhuận từ 2 vụ lúa đạt trên 61 triệu đồng / ha / năm, lợi nhuận từ vịt đạt 21,5 triệu đồng / ha / năm, lợi nhuận từ cá đạt gần 12 triệu đồng / ha / năm.

Theo ông Ngoạn, do kết hợp nuôi vịt và thả cá trên ruộng lúa nên giảm được chi phí sản xuất cả 3 yếu tố trên. Vào mùa lũ, ngoài nuôi thả cá, chuồng trại và thức ăn tự nhiên được tận dụng để nuôi thêm một số vịt đẻ, trồng và thu hoạch cây dương quanh đồng, góp phần tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích. tích trữ.

“Đây là mô hình được đầu tư từng bước theo khả năng vốn, kỹ thuật, nhất là bố trí sản xuất liên hoàn, tinh thần tích cực, chịu khó của người nông dân”.

Mô hình 2 lúa + vịt - cá, hiệu quả tốt được đánh giá cao trong các mô hình của TDA.  Tổng lợi nhuận của mô hình trên 100 triệu đồng / ha / năm.  Ảnh: Trọng Linh.

Mô hình 2 lúa + vịt – cá, hiệu quả tốt được đánh giá cao trong các mô hình của TDA. Tổng lợi nhuận của mô hình trên 100 triệu đồng / ha / năm. Hình ảnh: Trọng Linh.

Mô hình 2 vụ lúa – 1 vụ tôm, Phó Giám đốc Sở NN & PTNT tỉnh Đồng Tháp cho biết: Mặc dù đã chủ động thả giống sớm, giảm mật độ giống, chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất. , ao dự phòng. Tuy nhiên, do nước lũ về quá muộn và ít, không thể thả vào ruộng nên tôm nuôi trong ao chậm lớn, chi phí tăng do thức ăn, bơm nước, tăng ôxy, sản lượng không đạt, giá bán thấp. nên lợi nhuận từ tôm không cao 291.000 đồng / ha. Tổng lợi nhuận của mô hình trên 60 triệu đồng / ha / năm, cao hơn ngoài mô hình 51,6 triệu đồng / ha / năm. Lợi nhuận chính từ sản xuất lúa đạt gần 60 triệu đồng / ha / năm.

Ở mô hình 2 vụ – 1 cá, tổng lợi nhuận của mô hình là 135 triệu đồng / ha / năm, tăng 35,8 triệu đồng / ha / năm so với ngoài mô hình. Đây là mô hình cho lợi nhuận cao nhất trong 5 mô hình nhưng tỷ suất lợi nhuận chỉ đạt 56%, thấp hơn 4 mô hình còn lại do chi phí đầu tư cao.

Mô hình có hệ thống ao, mương nuôi cá khá tốt nhưng mặt ruộng cao, mực nước lũ thấp nên không thể thả cá ngoài đồng, chỉ thả trong ao. Do mô hình nuôi cá rô đồng thời gian nuôi ngắn, chi phí đầu tư thức ăn thấp, vẫn có lãi từ việc nuôi thêm cá nhưng lãi không cao gần 380 nghìn đồng / ha.

Tuy nhiên, việc thả cá tự nhiên cho lãi khá cao (3 triệu đồng / ha) nên tổng lợi nhuận từ nuôi cá trong mô hình là 3,3 triệu đồng / ha / năm.

Cuối cùng là mô hình Lúa mùa – tôm / cá, triển khai từ cuối tháng 5/2021 đến nay. Do mô hình sản xuất thử nghiệm vụ đầu tiên nên chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng, xử lý, cải tạo ao, mương xung quanh đồng ruộng tăng cao, lúa mùa năng suất thấp do phải khảo nghiệm 3 giống để chọn giống lúa mùa là phù hợp với điều kiện sản xuất nên tổng lợi nhuận mà mô hình đạt được chưa cao (30,1 triệu đồng / ha / vụ) so với khả năng đạt được của mô hình.

Các mô hình trong dự án cho lợi nhuận cao hơn so với các mô hình ngoài dự án do giảm lượng giống, phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật.  Ảnh: Trọng Linh.

Các mô hình trong dự án cho lợi nhuận cao hơn so với các mô hình ngoài dự án do giảm lượng giống, phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật. Hình ảnh: Trọng Linh.

Duy trì các sản phẩm đặc trưng của vùng

Ông Võ Thành Ngoan, Phó Giám đốc Sở NN & PTNT tỉnh Đồng Tháp kiêm Giám đốc Ban Quản lý Tiểu dự án ICRSL Đồng Tháp, đánh giá: Các mô hình trong dự án cho lợi nhuận cao hơn các mô hình ngoài dự án. , do lượng giống, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu giảm. Một số mô hình đang bắt đầu liên kết tiêu thụ lúa an toàn với doanh nghiệp, là cơ sở để khuyến khích, vận động nông dân xung quanh thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ sức khỏe, môi trường và lương thực. quản lý đất và nước tốt hơn.

Theo ông Ngoạn, trong 4 loại hình sinh kế đang triển khai thì sinh kế hai lúa – một cá là phổ biến nhất trong vùng dự án vì tương đối dễ thực hiện, cơ bản sản xuất được hai vụ lúa. chia sẻ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm, đạt chứng nhận VietGAP để liên kết tốt trong tiêu thụ, nâng cao hiệu quả. Tùy theo điều kiện đồng ruộng và cơ sở hạ tầng sẵn có, bà con có thể thả nuôi hoặc thả cá tự nhiên trong mùa lũ để kiếm thêm thu nhập, tạo điều kiện trữ lũ, tiêu úng theo mục tiêu của dự án.

Loại hình sinh kế 2 vụ – 1 cá tương đối phù hợp với yêu cầu tiết kiệm nước, khả năng cho lợi nhuận cao hơn trồng lúa nhưng tỷ suất lợi nhuận thấp (56%) nên cần nguồn lực. vốn đầu tư cao. Ngoài ra, cần có sự năng động, nhạy bén trong việc lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, thị trường, liên kết tiêu thụ tốt, áp dụng tốt hơn các giải pháp kỹ thuật vào sản xuất.

Đặc biệt, mô hình cần nguồn nhân lực dồi dào trong khâu chăm sóc, thu hoạch nên đây cũng là tiền đề tạo thêm việc làm và thu nhập cho lao động nhàn rỗi, đảm bảo ổn định và an sinh xã hội.

Loại hình sinh kế Lúa mùa – tôm / ruộng, cá tự nhiên mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, sản phẩm được tạo ra theo hướng hữu cơ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, thân thiện với môi trường, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay. Đồng thời góp phần tạo ra và duy trì những sản phẩm đặc trưng của vùng, tạo hướng phát triển kinh tế mới trong mùa lũ. Tuy nhiên, cần đầu tư tương đối về cơ sở hạ tầng, sự năng động, nhạy bén trong tiếp cận thị trường và liên kết tiêu thụ.

Leave a Reply

Your email address will not be published.