Hạn hán – mầm mống của nạn đói và sự tàn phá – Phần 4: Những cánh đồng khô cằn, những cơn bão đen và những người di cư

Rate this post

Những người di cư làm việc trên các cánh đồng ở California vào năm 1937 – Ảnh: Dorothea Lange

Những người nhập cư đến California thường bị phân biệt đối xử, họ phải làm việc chăm chỉ với mức lương thấp.

LỊCH SỬ kênh truyền hình

Hạn hán kéo dài nhiều năm đã tàn phá hàng triệu ha đất nông nghiệp ở Hoa Kỳ trong những năm 1930 trong thời kỳ suy thoái toàn cầu.

Bão Đen (Dust Bowl) nổ ra là nguyên nhân dẫn đến làn sóng di cư lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Sự kiện này còn được gọi là “cơn bão đen di cư”.

Khi đồng cỏ biến thành đất nông nghiệp

Trận Đại hạn hán xảy ra vào năm 1930 ở Trung Tây và Nam Đồng bằng lớn (trung Mỹ và miền tây Canada). Sau đó những cơn bão bụi đen lớn hoành hành, giết chết người, gia súc và hoa màu. Đến năm 1934, ước tính khoảng 14,1 triệu ha đất canh tác trước đây đã trở nên vô dụng và hơn 50 triệu ha bị mất lớp đất mặt.

Ngày 11/5/1934, một cơn bão bụi lớn cao tới 3,2km đã di chuyển 3.200km đến bờ Đông nước Mỹ, bao trùm cả Tượng Nữ thần Tự do và Điện Capitol. Trận bão bụi tồi tệ nhất xảy ra vào ngày 14 tháng 4 năm 1935.

Một bức tường cát và bụi rơi ở cực tây bắc Oklahoma. Ước tính có khoảng 3 triệu tấn đất mặt đã bị thổi bay khỏi Great Plains vào ngày hôm đó. Hãng tin AP đặt ra thuật ngữ “bão đen” để tường thuật sự kiện này. Mãi đến cuối năm 1939, cơn mưa thường xuyên hơn mới chấm dứt chuỗi ngày sống trong cơn bão đen.

Kênh truyền hình History (Mỹ) giải thích nguồn gốc của cơn bão đen là sau nhiều năm mưa lớn, nông dân đã thâm canh đất đai đến mức không cần thiết lập hệ thống thủy lợi. Trong những năm 1910 và 1920, giá lúa mì tăng cao và nhu cầu về lúa mì từ châu Âu đã thúc đẩy nông dân Mỹ chuyển đổi hàng triệu ha đồng cỏ bản địa sang trồng lúa mì, ngô và các loại cây trồng khác.

Khi Mỹ bước vào cuộc Đại suy thoái, giá lúa mì đã giảm mạnh. Trong cơn tuyệt vọng, những người nông dân đã khai phá ngày càng nhiều đồng cỏ với hy vọng kiếm lời. Khi một đợt hạn hán bắt đầu vào năm 1930, mùa màng thất bát đã làm lộ ra bề mặt trống rỗng của đất nông nghiệp. Đất không còn cỏ thảo nguyên ăn sâu nên bị xói mòn dẫn đến bão bụi lớn.

Cơn bão đen kéo dài khoảng một thập kỷ, nhưng tác động kinh tế còn kéo dài hơn nữa. Dân số của các quận bị ảnh hưởng giảm nặng vì mọi người rời bỏ quê hương tổ tiên của họ để di cư. Tình trạng này kéo dài đến những năm 1950. Giá trị nông nghiệp của đất cũng không thể phục hồi.

Giáo sư lịch sử James N. Gregory tại Đại học Washington và là tác giả của cuốn sách Người Mỹ di cư: Di cư trong cơn bão đen và văn hóa di cư ở California lưu ý rằng hạn hán nghiêm trọng đã xảy ra trên diện rộng trong những năm 1930.

Ông giải thích: “Các cộng đồng nông dân trong khu vực rộng lớn hơn cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảm giá bông.

Còn tranh cãi về số lượng chính xác người di cư từ Đại học Bang California, nhưng ước tính có khoảng 400.000 người di cư về phía tây đến California trong những năm 1930. Tổng cộng có khoảng 2,5 triệu người đã rời khỏi các bang bão đen (Texas, New Mexico, Colorado, Nebraska, Kansas, Oklahoma …).

Hạn hán - mầm mống của nạn đói và sự tàn phá - Phần 4: Cánh đồng khô cằn, bão đen và người di cư - Ảnh 3.

Một cơn bão đen đổ bộ vào Great Plains vào ngày 11/5/1934 – Ảnh: History

Cơ thể sủi bọt người di cư

Kênh Lịch sử (Mỹ) dẫn lời ông Byrd Monford Morgan nhớ lại: “Cha tôi mua một chiếc xe tải để chở những gì ông ấy có thể chở. Ngoài đồ đạc, trên xe tải còn có 15 người”. Trên đường đi, gia đình anh cắm trại bên vệ đường.

Khi gia đình đến California, họ dừng lại ở các trang trại và hỏi xem họ có cần nhân công hay không. Cuối cùng, gia đình anh trở thành công nhân hái đủ thứ từ cà chua đến nho miễn là có ruộng để ra vào.

Nhiều người di cư như người Morgans đóng gói vào những chiếc xe tải và xe tải chở đầy tài sản rời khỏi vùng đất khô hạn. Khi số lượng người di cư tăng lên, cảnh sát bắt đầu gây khó dễ. Cảnh sát yêu cầu những người di cư tại biên giới bang biến mất với lý do không có việc làm ở đây.

Tờ Los Angeles Times đưa tin một trường hợp cảnh sát chặn một bà mẹ sáu con tại một trạm kiểm soát và yêu cầu 3 đô la để có bằng lái xe ở California. Người mẹ cho biết cô chỉ còn 3,4 đô la trong túi nhưng cần số tiền này để mua thức ăn cho gia đình. Cuối cùng cảnh sát phải buông tay.

Những người nhập cư đến California thường bị phân biệt đối xử và phải làm việc cật lực trên các lĩnh vực với mức lương thấp. Họ sống trong cảnh nghèo đói và tuyệt vọng cùng cực mà nhà văn John Steinbeck đã mô tả trong cuốn tiểu thuyết The Grapes of Wrath năm 1939.

Họ phải di chuyển liên tục từ cánh đồng này sang cánh đồng khác để tìm việc làm, sống trong những ký túc xá tồi tàn của các chủ trang trại hoặc những căn lều ở ngoại ô trước khi chính phủ liên bang thiết lập các trại di cư cho họ. họ đi vào.

Mặc dù sinh ra ở Mỹ, nhưng nhiều người ở California vẫn coi họ là những người không được mời đến nhận việc từ những cư dân cũ, nơi rất khó tìm thấy trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Những người khác coi họ như ký sinh trên tiền cứu trợ của chính phủ.

Một số người dân địa phương nói rằng họ mang theo bệnh tật và tội ác, vì vậy họ muốn ngăn cản họ vào thành phố hoặc đưa họ trở về quê hương của họ. Năm 1936, người dân California lo sợ dịch bệnh đã phóng hỏa đốt một khu ổ chuột ven sông, nơi sinh sống của 1.500 người di cư.

Trong cuốn sách Kiếm ăn ở Bush: Hạn hán và Suy thoái vào những năm 1930, nhà sử học Michael L. Cooper báo cáo rằng người dân California đã chế nhạo những người di cư là “cư dân trong rừng”, “kẻ trộm trái cây”. và sử dụng nhiều biệt danh khác, nhưng thường được sử dụng nhất là “okie” (người di cư nghèo).

Trớ trêu thay, Thế chiến II lại là cơ hội đổi đời cho những người di cư. Nhiều gia đình đã rời bỏ các cánh đồng làm thuê đến Los Angeles hoặc Vịnh San Francisco để làm việc trong các xưởng đóng tàu và nhà máy máy bay.

Đến năm 1950, chỉ có khoảng 25% người di cư trong Bão Đen vẫn đang làm việc trên các cánh đồng. Khi những người nhập cư cũ trở nên tốt hơn, họ hòa nhập vào nhóm dân số cũ ở California.

Những đám mây bụi cuộn tròn che khuất ánh sáng mặt trời. Trời tối sầm lại, có khi kéo dài nhiều ngày. Nhiều nơi lớp bụi dày như tuyết, người dân phải dùng xẻng để làm sạch.

Bụi len lỏi qua các kẽ hở trong những ngôi nhà được bịt kín, phủ một lớp dày lên đồ ăn, quần áo, đồ đạc. Một số người bị “viêm phổi bụi”, thường cảm thấy đau ngực và khó thở. Không rõ chính xác có bao nhiêu người chết vì căn bệnh này.

——————–

Nhiều nước trên thế giới đã đầu tư vào các chương trình gieo mưa nhân tạo nhằm giải quyết hậu quả của hạn hán kéo dài. Các nhà khoa học nói gì về giải pháp thay thế mưa này?

Lần sau: Đổi trời thành mưa?

Leave a Reply

Your email address will not be published.