Đồng bằng sông Cửu Long giảm phát thải 10,97 triệu tấn CO2e mỗi năm vào năm 2030

Rate this post


Đồng bằng sông Cửu Long Nếu 1,9 triệu ha đất lúa được canh tác bằng phương pháp tưới khô và ướt xen kẽ thì mức giảm phát thải tiềm năng của Đồng bằng sông Cửu Long ước tính vào năm 2030 là 10,97 triệu tấn CO2e mỗi năm.

Tính đến năm 2020, lĩnh vực nông nghiệp là ngành phát thải cao thứ hai, chiếm khoảng 19% tổng lượng phát thải quốc gia. Trong đó, cây lúa là cây trồng quan trọng, cung cấp an ninh lương thực, được canh tác trên 54% diện tích đất nông nghiệp của cả nước. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực chiếm 48% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính và hơn 75% lượng khí mê-tan trong nông nghiệp.

Lúa gạo chiếm 48% lượng phát thải khí nhà kính và hơn 75% lượng khí mê-tan trong nông nghiệp. Hình ảnh: Kim loại của mình.

Gần đây nhất, một báo cáo về “Hướng tới chuyển đổi nông nghiệp xanh ở Việt Nam: Chuyển sang mô hình lúa các-bon thấp” do Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam công bố. Đặc biệt, báo cáo chỉ ra 5 nguyên nhân chính làm tăng phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa gạo. Bắt nguồn từ việc thâm canh nông nghiệp không bền vững và phá rừng. Tiếp theo là tỷ lệ thụ tinh cao. Mức độ sử dụng nước tưới cũng quá cao. Hơn nữa, nông dân quản lý không đúng cách các phế phẩm từ lúa gạo như rơm rạ và trấu. Cuối cùng, đó là việc sử dụng năng lượng không hiệu quả trong nông nghiệp.

Từ đó, các chuyên gia đã chỉ ra sự cần thiết phải chuyển đổi sang nền nông nghiệp các-bon thấp. Đồng thời, báo cáo cũng đưa ra các khuyến nghị nghiên cứu về chuyển đổi nông nghiệp xanh ở Việt Nam thông qua hướng tới sản xuất lúa các-bon thấp và truyền tải thông điệp hướng tới sản xuất lúa “xanh”.

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới 'Hướng tới chuyển đổi nông nghiệp xanh ở Việt Nam: Chuyển sang mô hình lúa các-bon thấp' truyền tải thông điệp hướng tới sản xuất lúa 'xanh'.  Ảnh: Kim Anh.

Ngân hàng Thế giới đã công bố báo cáo về “Hướng tới chuyển đổi nông nghiệp xanh ở Việt Nam: Chuyển sang mô hình lúa các-bon thấp” nhằm truyền tải thông điệp hướng tới sản xuất lúa gạo “xanh”. Hình ảnh: Kim loại của mình.

Mới đây, trong khuôn khổ Dự án Chuyển đổi Nông nghiệp Bền vững tại Việt Nam (VnSAT) do Ngân hàng Thế giới tài trợ, hơn 184.000 ha diện tích trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long đã thí điểm thành công mô hình canh tác bền vững. giảm lượng khí thải. Bài học kinh nghiệm từ dự án VnSAT cho thấy việc áp dụng kỹ thuật giảm 1 đến 5 (1P5G) trong canh tác lúa có thể giảm phát thải khí nhà kính khoảng 8 tấn CO2e / ha / năm.

Ngoài ra, các cánh đồng thí điểm ở ĐBSCL cho thấy, việc sử dụng công nghệ IoT – Cảm biến nước đã giúp nông dân tối ưu lượng nước, giảm tới 42% so với việc tưới lúa bằng phương pháp thủ công. Đặc biệt hệ thống tưới thông minh này có thể giảm phát thải khí nhà kính lên đến 60-70% so với hệ thống tưới thủ công, tương đương 4-6 tấn CO2e / ha / vụ.

Dựa trên các ước tính thận trọng, việc cải thiện quản lý nước và tối ưu hóa việc sử dụng các nguyên liệu đầu vào như hạt giống, phân bón và thuốc trừ sâu có thể giúp nông dân duy trì hoặc tăng sản lượng từ 5-10%. Đồng thời, giảm 20 – 30% chi phí đầu vào. Quan trọng hơn, những kỹ thuật sáng tạo này sẽ giúp cắt giảm tới 30% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Từ những tính toán đó, Ngân hàng Thế giới cho rằng đã đến lúc nông nghiệp nước ta phải chuyển sang nền nông nghiệp các-bon thấp.

Ông Benoît Bosquet, Giám đốc khu vực phát triển bền vững khu vực Châu Á Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới cho rằng Việt Nam đã có quyết định đúng đắn khi chuyển đổi sang mô hình sản xuất bền vững. cam kết giảm phát thải, từ đó mở ra cơ hội mới về tài trợ vốn hay còn gọi là tài chính carbon.

Benoît Bosquet, Giám đốc Khu vực Phát triển Bền vững của Ngân hàng Thế giới, Châu Á Thái Bình Dương, cho rằng việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất bền vững sẽ mở ra cơ hội mới về tài chính carbon cho Việt Nam.  Nam giới.  Ảnh: Kim Anh.

Benoît Bosquet, Giám đốc Khu vực Phát triển Bền vững của Ngân hàng Thế giới, Châu Á Thái Bình Dương, cho rằng việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất bền vững sẽ mở ra cơ hội mới về tài chính carbon cho Việt Nam. Nam giới. Hình ảnh: Kim loại của mình.

Theo bà Dina Umali-Deininger, Giám đốc thực tiễn về nông nghiệp và thực phẩm của Ngân hàng Thế giới, các nước trên thế giới như châu Âu, Trung Quốc, Philippines hiện đang nhận ra những thách thức này. thách thức của biến đổi khí hậu và ngày càng chú trọng các chính sách hỗ trợ nông dân chuyển đổi sang thực hành nông nghiệp tốt. Ví dụ, ở Đức, 84% nhà bán lẻ tăng trưởng doanh thu từ các mặt hàng đáp ứng các tiêu chí bền vững về môi trường. Sản xuất lúa các-bon thấp không chỉ giúp Việt Nam thực hiện cam kết của Thủ tướng Chính phủ tại COP26, mà còn mở ra cơ hội giúp nông sản Việt Nam đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh của thế giới.

Theo Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), kỹ thuật tưới khô và ướt xen kẽ có thể giúp ngành lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long giảm phát thải khí nhà kính tiềm ẩn 10,97 triệu tấn CO2e mỗi năm vào năm 2030. Ảnh: His Metal.

Theo Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), kỹ thuật tưới khô và ướt xen kẽ có thể giúp ngành lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long giảm phát thải khí nhà kính tiềm ẩn 10,97 triệu tấn CO2e mỗi năm vào năm 2030. Ảnh: Kim loại của mình.

Con đường hướng tới sản xuất lúa các-bon thấp được các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới chỉ ra là áp dụng kỹ thuật sản xuất khô ướt xen kẽ, kỹ thuật 1P5G và nâng cao hiệu quả của các hoạt động sau thu hoạch để giảm thất thoát và lãng phí lương thực. Theo phân tích của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), nếu thực hiện kỹ thuật tưới khô-ướt xen kẽ và áp dụng tối ưu kỹ thuật 1P5G trên 1,9 triệu ha lúa, ngành lúa gạo có thể được cải thiện. lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long giảm phát thải khí nhà kính tiềm ẩn 10,97 triệu tấn CO2e mỗi năm vào năm 2030. Ngoài ra, việc tái sử dụng 70% rơm rạ cho các hình thức khác có lượng phát thải KNK thấp hơn khoảng 50% so với đốt rơm rạ.

Để đạt được điều này, điều quan trọng là phải tăng cường đầu tư vào nghiên cứu và đổi mới, khuyến nông, hiểu biết về tài chính và kết nối nông thôn. Tăng cường hệ thống khuyến nông, an toàn thực phẩm và hệ thống truy xuất nguồn gốc. Ngoài ra, giám sát tác động môi trường, phát thải khí nhà kính. Tận dụng công nghệ và nền tảng kỹ thuật số. Cuối cùng, tăng cường vai trò của các hợp tác xã và hiệp hội để đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô và liên kết thị trường.

Bộ trưởng Bộ NN & PTNT Lê Minh Hoan phân tích: Trước đây, nông dân trồng lúa cố gắng nâng cao thu nhập bằng cách tăng sản lượng, nhưng khi đẩy sản lượng lên sẽ tạo ra nhiều hệ lụy. Các chi phí hữu hình, vật tư đầu vào ngày càng tăng, người nông dân hiện chỉ tiếp cận đầu ra mà chưa quan tâm đến đầu vào. Ngoài ra, còn có những chi phí vô hình như suy thoái chất dinh dưỡng của đất, môi trường và sức khỏe của người tiêu dùng và nông dân.

Tiêu dùng xanh đang là xu hướng hiện nay, sản phẩm ngoài việc cung cấp dinh dưỡng còn phải thể hiện sự phát triển bền vững và đảm bảo môi trường. Vì vậy, Bộ trưởng cho rằng nông dân và ngành nông nghiệp địa phương phải thay đổi cách tiếp cận theo hướng nông nghiệp xanh, sản xuất lúa gạo để giảm phát thải khí nhà kính.

Leave a Reply

Your email address will not be published.