Nỗi buồn của kiến ​​thức

Rate this post

Tùy theo giai đoạn nhận thức mà có kiến ​​thức thực nghiệm hay kiến ​​thức lý thuyết.

>> Giáo dục Việt Nam – Nước mắt chảy xuôi hay chảy ngược?

Đã lâu rồi trên mạng xã hội mới xuất hiện chủ đề thảo luận – về thực trạng tri thức, sau bài phát biểu của một nhà báo tại lễ khai giảng của Đại học Fullright Việt Nam – “giàu tri thức”. Suy ngẫm về kiến ​​thức hiện có là điều kiện cần thiết để thăng tiến trong học tập.

Đến lượt mình, học thuật là cánh cửa duy nhất có thể mở ra những chân trời mới, biểu hiện cụ thể ở những phát minh, khám phá, cải tiến công cụ lao động, tạo ra năng suất cho nền kinh tế. Mọi con đường thoát nghèo và trở nên hùng mạnh đều đi qua “ngõ” tri thức để tạo ra những giá trị mới.

Với giá trị “mềm”, tri thức giống như một bộ quần áo hiện đại, nhưng khi khoác lên mình trên trường quốc tế, nó được tôn trọng, chẳng hạn nói đến Hy Lạp – La Mã, người ta nhớ ngay đến hệ thống các nhà thông thái, cái nôi của loài người. nền văn minh; Nói đến Nhật Bản là nói đến những con người ưu tú dựa vào những bằng sáng chế của phương Tây để xây dựng nên một nền khoa học kỹ thuật đồ sộ.

“Giàu tri thức” để chỉ lớp nhà đầu cơ có bằng cấp, chứng chỉ; học đối phó, sao chép và nhiều nhất là “trích chương”, “ôn lại tri tân”. Hoàn toàn không có kiến ​​thức mới được sản xuất, do đó, không có phát minh mới. Đây là một thực trạng, rất phổ biến ở nước ta.

Tôi nhớ có lần đi xem bảo vệ đồ án tốt nghiệp của sinh viên một trường đại học lớn, đồ án mang tên “Khảo sát nguyên lý hoạt động của động cơ đốt trong”. Trong hội đồng phản biện, một giáo sư thẳng thắn nhận xét: động cơ đốt trong đã có hàng trăm năm rồi, giờ thế giới cũng sắp ném vào sọt rác nên đề tài này không giải quyết được gì gọi là “cấp bách”.

Người Trung Hoa cổ đại nổi tiếng với nền giáo dục “luận so sánh”, mọi kiến ​​thức trên đời đều được đóng khung trong “Tứ thư” gồm: Đại học, Trung dung, An cư lạc nghiệp và “Ngũ kinh điển”. bao gồm: Sách thơ, Sách kinh, Lễ ký, Kinh dịch và Kinh Xuân Thu.

Nho giáo truyền vào Việt Nam kéo theo hệ thống giáo dục và thi cử tương tự, “hiếu học là học sách thánh hiền”. Mãi cho đến khi triều đình phong kiến ​​cuối cùng ở Việt Nam sụp đổ, nó mới chính thức nói lời tan vỡ. Nhưng trên thực tế, tư duy học theo kiểu Nho giáo vẫn còn rất dày đặc.

Nếu người học có lỗi một phần thì hệ thống giáo dục và phương pháp giáo dục có một phần lỗi. Trong đó nội dung học tập quyết định phần lớn. Sau đó là phương pháp giáo dục.

Tiếp cận kiến ​​thức nền, kiến ​​thức phổ thông là cần thiết để tạo ra kiến ​​thức mới

Tiếp cận kiến ​​thức nền, kiến ​​thức phổ thông là cần thiết để tạo ra kiến ​​thức mới

Hãy đặt vấn đề ngược lại, như sau: học sinh phổ thông phải học lượng giác, tra hàm số, giải tích vi phân để làm gì? Chúng tôi hầu như không bao giờ được nghe các chuyên gia đầu ngành giải thích, tổng biên tập giải thích! Tức là thế hệ trước phải học, thế hệ sau phải học, dù ứng dụng thực tế đến đâu.

Cụ thể, với các định lý, tiên đề trong hình học; Các định luật vật lý đã được các nhà khoa học phương Tây khám phá và chứng minh từ nhiều thế kỷ trước,… các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã áp dụng 99,99% lý thuyết đó vào sản xuất máy móc thiết bị.

Ví dụ, áp dụng định luật Pascal để chế tạo máy nén thủy lực, máy nâng hạ, phanh thủy lực vốn là những thiết bị cổ điển mà người ta không cần hiểu định lý này vẫn có thể chế tạo được nhờ máy móc. các móc và dòng được lập trình sẵn. Dùng định luật Bernoulli đo tốc độ dòng chảy, đo tốc độ, chế tạo cánh máy bay … Và còn vô số loại kiến ​​thức cũ không thể thống kê hết được.

Những gì học sinh Việt Nam được dạy vẫn chỉ là học thuộc lòng các định lý và định luật, giải một số bài toán mẫu sơ khai và tất cả học sinh không bao giờ biết tại sao mình phải học những thứ khô khan như vậy! Đi thi chép nội dung, giải toán đủ điểm rồi quên.

Tiếp cận tri thức cũ là giai đoạn sơ khởi bắt buộc, đặc biệt tri thức luôn có tính kế thừa, phủ định biện chứng, mọi tri thức mới đều được hình thành trên cơ sở tri thức cũ, phổ thông.

Nhưng vấn đề là chúng ta chỉ nằm lòng với kiến ​​thức cũ, lười tìm tòi, kém sáng tạo trong thực hành nên không có tài liệu để so sánh với lý thuyết, dẫn đến sự nhàm chán theo thời gian. Kiến thức thế hệ trước học được không mới nên không có tác phẩm tiên phong nên những gì thế hệ sau học được vẫn không hơn không kém.

Trường hợp của GS Ngô Bảo Châu, ông đã chứng minh thành công Bổ đề Langlangds mà suốt 30 năm trước đó không nhà toán học nào làm được. Ý nghĩa của nó là giúp nhân loại khám phá toán học lý thuyết nhiều hơn. Bản thân tác giả nói: “Cá nhân tôi đánh đồng phỏng đoán của Langlands với hình học phẳng của Euclid hoặc phát minh của nhóm Galois trong việc giải các phương trình đại số …”

Cần phải có một nền giáo dục khai phóng

Cần phải có một nền giáo dục khai phóng

Hầu hết giới khoa bảng trong nước đều sống trong bầu không khí tri thức rất ngột ngạt, khó có ngoại ngữ để tiếp cận tài liệu nước ngoài. Vì vậy, họ cứ trích dẫn đi trích dẫn lại, mỗi năm có hàng nghìn tiến sĩ ra đời với rất ít kiến ​​thức mới – nên chỉ còn cách “rán” nhau, hoặc chọn những chủ đề xã hội, trung lập khó định lượng. .

Giáo dục khai phóng là cần thiết, bằng cách giảm thời gian học tập và tăng hoạt động thử nghiệm. Muốn vậy, hãy cắt giảm kỳ thi, thu gọn bảng học tập; thoát khỏi bệnh thành tích,… nghe thì đơn giản nhưng làm được thì rất khó!

Không sai khi tiêu diệt những người “giàu tri thức” nhưng bản chất của vấn đề không phải do lớp người này, họ chỉ là sản phẩm của một nền giáo dục chưa hoàn toàn có thể sản sinh ra một “nhân tài” thực sự.

Đánh giá của bạn:

Leave a Reply

Your email address will not be published.