Chung tay bảo vệ “lá chắn” Trái đất

Rate this post

(TN&MT) – Trong thời gian tới, việc sử dụng môi chất lạnh và môi chất lạnh bảo vệ môi trường sẽ dần trở thành yêu cầu bắt buộc. Quá trình thay đổi và chuyển mình sẽ gặp những khó khăn gì, Báo TN&MT phỏng vấn TS Nguyễn Xuân Tiến – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Khoa học Kỹ thuật Điện lạnh Điều hòa Việt Nam, một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực điện lạnh tại Việt Nam hôm nay để biết thêm thông tin về vấn đề này.

PV: Ông đánh giá thế nào về nhu cầu sử dụng thiết bị điện lạnh và điều hòa không khí ngày càng tăng của Việt Nam?

TS Nguyễn Xuân Tiến – Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học Kỹ thuật Điện lạnh Điều hòa Việt Nam

TS Nguyễn Xuân Tiến: Ngày nay, tủ lạnh hay máy điều hòa đã trở thành vật dụng thiết yếu trong mỗi gia đình. Không chỉ phổ biến ở thành thị, các gia đình ở nông thôn việc trang bị một chiếc điều hòa trong mỗi phòng là điều phổ biến. Nguyên nhân là do Việt Nam nóng ẩm, nhiệt độ thời tiết những năm gần đây ngày càng khắc nghiệt, đời sống người dân được nâng cao nên nhu cầu sử dụng điều hòa là rất cấp thiết.

Trong khu vực Đông Nam Á nói chung, Việt Nam có thị trường điều hòa không khí phát triển nhanh nhất. Giai đoạn 2017 – 2019 tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 15 – 20% / năm; Năm 2020-2021 bị trì hoãn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nhưng đến năm 2022, nó đã bắt đầu lấy lại phong độ.

Ngoài nhu cầu dân dụng, đó là nhu cầu công việc, phát triển kinh tế, điển hình là ngành xuất khẩu thủy – hải sản, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu khoảng 10 tỷ đô la và các sản phẩm đều phải trải qua mùa đông. lạnh. Ngoài thủy sản, hầu hết các ngành hàng điện lạnh đều có nhu cầu tăng thời gian bảo quản thiết bị, thuốc men, thực phẩm… Vì vậy, có thể nói ngành điện lạnh Việt Nam sẽ rất phát triển theo thời gian. tiếp theo.

PV: Trong tương lai, ngành sản xuất thiết bị điện lạnh, điều hòa không khí nhất định phải giảm phát thải theo Luật Bảo vệ môi trường. Làm thế nào để giải quyết được sự mâu thuẫn giữa nhu cầu thực tiễn của thiết bị và yêu cầu bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng, thưa ông?

TS Nguyễn Xuân Tiến: Hệ thống lạnh bắt buộc phải sử dụng môi chất lạnh. Đây là chất trung gian để có thể truyền nhiệt lượng thấp ra môi trường. Trong giai đoạn phát triển sản xuất máy điều hòa không khí, thiết bị làm lạnh mạnh nhất, thế giới chủ yếu sử dụng môi chất lạnh gốc F gây suy giảm tầng ozon, sau này sẽ có các chất khác thay thế. khí nhà kính gây ra biến đổi khí hậu.

9-1-.jpg

Mô phỏng vai trò của tầng ozon trong việc ngăn chặn tia cực tím từ mặt trời chiếu tới trái đất.

Các môi chất lạnh thế hệ mới hiện nay phải đáp ứng hai yêu cầu chính: Khả năng làm lạnh tốt và không gây hại cho môi trường (không thải ra các chất làm suy giảm tầng ozon, khí nhà kính). Vấn đề này không đơn giản. Thế giới đã tìm ra một số chất nhưng giá thành cao nên chưa thể phổ biến rộng rãi. Việt Nam chưa đủ điều kiện để tự học, nhưng có thể tập trung vào quản lý sử dụng.

Theo lộ trình, Việt Nam sẽ loại bỏ hoàn toàn các chất HCFC vào năm 2040. Đây là điều hết sức khó khăn, đặc biệt, nhiều doanh nghiệp có nguồn lực tài chính hạn chế. Để sử dụng một môi chất lạnh mới, các doanh nghiệp sẽ phải thay đổi máy móc, dây chuyền sản xuất mới, số tiền có thể lên tới hàng chục, hàng trăm tỷ đồng. Mặc dù các doanh nghiệp đã có nhận thức nhất định về vấn đề này nhưng đây là vấn đề khó khăn không thể thay đổi trong một sớm một chiều.

Tôi đã theo dõi sự hỗ trợ trong lĩnh vực này của một số tổ chức quốc tế. Phổ biến nhất là cho vay nhưng điều kiện vay kèm theo rất khắt khe nên các doanh nghiệp không mặn mà lắm. Về hỗ trợ kỹ thuật, chẳng hạn, Nhật Bản đã hỗ trợ thiết bị tiêu hủy HCFC 22, tổ chức hội thảo cách thức thu hồi, vận chuyển, lưu giữ và tiêu hủy. Dự án thiết thực, hữu ích mà tác dụng chính là nâng cao nhận thức cho đội ngũ nhân viên. Thực tế, chi phí cho toàn bộ quy trình này không hề rẻ và không phù hợp với quy mô của các doanh nghiệp Việt Nam.

Giải pháp tổng thể để giảm phát thải vẫn là ban hành các cơ chế, chính sách để loại bỏ các chất HCFC, HFC. Các chính sách cần hết sức cụ thể, phù hợp với thông lệ của Việt Nam và các cam kết quốc tế. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã làm tốt công tác này với việc xây dựng các quy định liên quan trong Luật Bảo vệ môi trường, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn cụ thể, sát thực tế. Bộ Công Thương cũng có chính sách về tiết kiệm năng lượng và đã xây dựng thành công thị trường dán nhãn tiết kiệm năng lượng. Riêng ngành điện lạnh và điều hòa không khí ghi nhận mức độ tiết kiệm năng lượng rất tốt. Chi phí điện cho điều hòa, điện lạnh thường chiếm 20 – 40% nên nếu tiết kiệm được dù chỉ 1% cũng mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể. Như vậy, chủ trương cần đúng và kịp thời, bên cạnh đó cần có bộ phận quản lý, kiểm tra việc thực hiện.

Theo tôi, các doanh nghiệp nhập khẩu và tiêu thụ môi chất lạnh lớn như khách sạn lớn, nhà máy lớn, kho lạnh lớn… cần tiên phong trong việc giảm phát thải nhằm xây dựng ý thức trong xã hội. Một mặt, Nhà nước ban hành các chính sách cứng rắn để các doanh nghiệp thực hiện. Mặt khác, thị trường sẽ đào thải những doanh nghiệp không đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Bản thân các doanh nghiệp trong lĩnh vực này cần chủ động và chấp hành nghiêm túc các quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường; có kế hoạch, biện pháp cụ thể để sử dụng thiết bị có môi chất không phá hủy tầng ô-dôn, không phát thải khí nhà kính và sử dụng kỹ thuật viên được đào tạo bài bản.

PV: Theo ông, cần phải làm gì để nâng cao nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu tiếp thu khoa học, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến trong lĩnh vực điện lạnh và điều hòa không khí?

TS Nguyễn Xuân Tiến: Những người thợ điện, điện lạnh ngày nay đã hiểu biết hơn rất nhiều về vấn đề bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng so với trước đây. Đây là kết quả của quá trình phổ biến kiến ​​thức của Bộ TNMT. Lực lượng lao động trong ngành đã phát triển vượt bậc về số lượng, với sự tham gia của ngày càng nhiều các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề. Ở một số trường, số sinh viên học chuyên ngành điện, điện lạnh chiếm 30-50%. Tại Đại học Bách Khoa, chúng tôi đào tạo hơn 100 sinh viên mỗi năm và khi ra trường tất cả đều có việc làm. Điều này cho thấy nhu cầu nhân lực là rất lớn.

Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực sẽ cần được nâng cao trong thời gian tới. Đơn giản nhất là làm sao để họ sử dụng gas lạnh hợp lý, sử dụng máy móc không bị rò rỉ gas, tiết kiệm năng lượng; Nắm chắc quy trình kỹ thuật khi sử dụng, vận hành, sửa chữa thiết bị, không thải môi chất lạnh ra môi trường mà thu hồi để tiêu hủy…

Theo tôi được biết, sắp tới Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản đề nghị Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (Bộ LĐTB & XH) cấp chứng chỉ nghề điện, điện lạnh để đảm bảo công nhân sẽ đạt được trình độ cần thiết. các tiêu chuẩn và yêu cầu bắt buộc.

Quá trình tập huấn, tuyên truyền cần được thực hiện thường xuyên và đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian tới.

PV: Xin trân trọng cảm ơn!

Leave a Reply

Your email address will not be published.