Hội thảo khoa học về hệ sinh thái Biển Đông

Rate this post

Ngày 13/9, Viện Hải dương học tổ chức hội thảo khoa học quốc tế Biển Đông năm 2022 với chủ đề “Thế kỷ khoa học và công nghệ biển vì tương lai đại dương”. Đây là hoạt động nhân kỷ niệm 100 năm thành lập Viện Hải dương học (14/9/1922 – 14/9/2022).

Tham dự Hội nghị có Phó Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Tác An – Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Biển Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi – Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghề cá Việt Nam; PGS.TS Võ Sỹ Tuấn – nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học, cùng hơn 200 nhà khoa học trong và ngoài nước.


Hội nghị thu hút hơn 200 nhà khoa học trong và ngoài nước.

MÔI TRƯỜNGBiển đông suy thoái

Tại hội nghị, ông Nguyễn Tác An cho rằng, môi trường biển Đông đang ngày càng xấu đi. Để chứng minh điều này, ông An chỉ ra một số dấu hiệu như: Số lượng cá và sinh vật biển bị suy giảm do đánh bắt và khai thác quá mức. Diện tích rạn san hô và rừng ngập mặn bị thu hẹp, giảm từ 30 đến 50% so với số liệu từ đầu thế kỷ XX. Số lượng và chất lượng các thành phần môi trường bị biến đổi do nhiều nguyên nhân, chủ yếu do ô nhiễm, hủy hoại, khai thác không kiểm soát các yếu tố môi trường, hủy hoại tài nguyên thiên nhiên. .

Suy thoái môi trường đã và đang ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật. Tại Việt Nam, điều đáng lo ngại là hiện tượng mưa lớn bất thường và nhiệt độ ngày càng tăng do hiện tượng trái đất nóng lên, đặc biệt là bão lũ 3-4 năm một lần.

Ông Võ Sỹ Tuấn cho rằng, Biển Đông đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường, trong đó suy thoái hệ sinh thái là vấn đề nghiêm trọng nhất, sau đó là khai thác quá mức và ô nhiễm môi trường. Hiện một số thảm cỏ biển và rạn san hô đã biến mất do biển xâm thực ở vịnh Nha Trang, vịnh Cà Ná (tỉnh Ninh Thuận). Các nhà khoa học đã ghi nhận một số sự cố như: Hàng loạt san hô và sinh vật rạn ở Vịnh Cà Ná bị chết vào tháng 7/2002; nhiều san hô ở Côn Đảo đã chết vào năm 1998…

Theo các nhà khoa học, có 5 áp lực chính gây suy thoái môi trường là thay đổi môi trường sống, khai thác quá mức, ô nhiễm, sinh vật ngoại lai xâm hại và biến đổi khí hậu. Hiện nay, thế giới đang phải đối mặt với hàng loạt cuộc khủng hoảng môi trường cả ở cấp độ toàn cầu (đe dọa sự tồn tại của sự sống trên trái đất) và cấp địa phương (đe dọa sự phát triển và chất lượng cuộc sống). cuộc sống).


Nhóm lặn PADI Việt Nam nuôi san hô tại vùng biển Nha Trang
Nhóm lặn PADI Việt Nam nuôi san hô tại vùng biển Nha Trang

Cần nó sớm có một giải pháp phục hồi

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Tác An, ba vấn đề cốt lõi để quản trị, phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền, môi trường Biển Đông là: Tuyên truyền sâu rộng nhận thức về kinh tế biển, đảo và vai trò của kinh tế trong bảo vệ lãnh hải; tăng cường quản lý hiệu quả phát triển kinh tế biển và hải đảo trên cơ sở khoa học và pháp luật; hiểu tài nguyên biển Đông và biết giá trị của tài nguyên. Để ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển, cần ngăn chặn tình trạng xả chất thải nguy hại, gây ô nhiễm môi trường. Về lâu dài, cần có các giải pháp phục hồi chất lượng và số lượng các thành phần môi trường như: Nuôi trồng động thực vật rừng, cải tạo đất, cải tạo nguồn lợi thủy sản.


PGS.  GS.TS Nguyễn Tác An phát biểu tại hội nghị
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Tác An phát biểu tại hội nghị

Theo PGS.TS Võ Sỹ Tuấn, cần có những giải pháp đồng bộ để phục hồi hệ sinh thái biển. Đối với rừng ngập mặn và rạn san hô, nhiều hoạt động phục hồi đã được thực hiện với một số kết quả nhất định. Việc mở rộng phục hồi và quản lý có hiệu quả các khu vực đã được phục hồi để bảo tồn và sử dụng hợp lý cần được coi là cơ sở để tái tạo tài nguyên biển, phát triển và phát triển du lịch. Để nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng…


PGS.  GS.TSKH Nguyễn Chu Hồi phát biểu tại hội nghị
Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi phát biểu tại hội nghị

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi: Để góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong thời gian tới, các nhà khoa học cần tập trung nghiên cứu, cung cấp các bằng chứng khoa học, phục vụ cho quy hoạch, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về biển và khung thể chế, thống nhất quản lý vùng ven biển và hải đảo Việt Nam. Đồng thời, cần nghiên cứu, dự báo nguồn lợi thủy sản xa bờ, diễn biến ngư trường, môi trường biển, xói lở, bồi tụ ven biển, hải đảo; nghiên cứu các giải pháp khai thác tài nguyên năng lượng biển. Tôi cũng khuyến nghị nên đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ biển ở các địa phương để tăng hiệu quả đầu tư của nền kinh tế, đặc biệt là tập trung vào các huyện đảo. Đặc biệt, cần đẩy mạnh hợp tác với nước ngoài về ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong điều tra, nghiên cứu, dự báo các yếu tố tự nhiên, tài nguyên và môi trường theo hướng phát triển bền vững.

Vân Kỳ

Leave a Reply

Your email address will not be published.