Không chỉ “vỡ trận” do lạm phát, nền kinh tế đang đối mặt với hàng loạt sóng gió

Rate this post

Sự suy giảm này của nền kinh tế toàn cầu diễn ra trong bối cảnh hàng loạt thăng trầm, từ lạm phát leo thang ở phương Tây đến chính sách phòng chống dịch bệnh Zero-Covid ở Trung Quốc. Theo báo Nikkei Asia, chỉ riêng lạm phát đã trở thành “đường đứt đoạn” trong nền kinh tế toàn cầu. “Đường đứt gãy” này có nguy cơ mở rộng trong trường hợp xảy ra khủng hoảng ở eo biển Đài Loan hoặc các nơi khác.

Mỹ và châu Âu đang phải đối mặt với bài kiểm tra liệu hai nền kinh tế này có thể tiếp tục dẫn đầu thị trường toàn cầu hay không, vì bản thân họ đang phải vật lộn để thoát khỏi sự phụ thuộc vào lao động. Năng lượng Trung Quốc và Nga.

Trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu công bố hồi tháng 7, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá kinh tế toàn cầu tăng trưởng tiêu cực trong quý II do sự sụt giảm ở Trung Quốc và Nga, trong khi chi tiêu tiêu dùng tại Mỹ không như kỳ vọng.

“Một số cú sốc đã giáng xuống nền kinh tế toàn cầu vốn đã suy yếu do đại dịch: Lạm phát cao hơn dự kiến ​​trên toàn thế giới – đặc biệt là ở Hoa Kỳ và các nền kinh tế lớn của châu Âu – đã gây ra các điều kiện tài chính thắt chặt hơn; kinh tế Trung Quốc suy thoái tồi tệ hơn dự kiến bùng phát và đóng cửa; và tác động tiêu cực tiếp tục của cuộc chiến ở Ukraine. ” Báo cáo của IMF.

Nhà phân tích Yoshimasa Maruyama của SMBC Nikko Securities dự báo GDP toàn cầu sẽ giảm 2,7% trong quý.

Mỹ, Đức, Anh và Trung Quốc đều ghi nhận mức tăng trưởng âm trong quý II. Về mặt kỹ thuật, Mỹ đã rơi vào suy thoái sau khi có hai quý tăng trưởng âm liên tiếp. Vương quốc Anh được dự báo sẽ bước vào suy thoái trong quý 4 năm nay và tăng trưởng âm trong suốt năm 2023, theo dự báo hồi đầu tháng của Ngân hàng Trung ương Anh (BoE).

Theo một cuộc khảo sát của Nikei với 10 nhà kinh tế khu vực tư nhân, 3 nhà dự báo Mỹ sẽ bước vào một cuộc suy thoái trong năm nay hoặc nửa đầu năm 2023, trong khi 6 người khác đưa ra dự báo tương tự cho lĩnh vực đồng. tiền tệ khu vực đồng euro.

Tại Nhật Bản, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực tế đã tăng 2,2% trong quý thứ hai so với cùng kỳ năm ngoái, trở lại mức trước đại dịch. Tuy nhiên, phần lớn sự tăng trưởng này không đến từ các yếu tố trong nước và tiềm năng tăng trưởng vẫn ở mức thấp. Nhu cầu ở nước ngoài giảm cũng có nguy cơ khiến nền kinh tế đi chệch hướng.

Các dự báo trên được đưa ra khi nhu cầu về các thiết bị và dịch vụ kỹ thuật số – động lực thúc đẩy sự phục hồi sau Covid của thế giới – bắt đầu chậm lại.

“Một số khách hàng lớn nhất của chúng tôi đang giảm lượng hàng tồn kho với tốc độ chưa từng thấy trong thập kỷ qua”, Giám đốc điều hành Patrick Gelsinger của Intel cho biết trong thông báo về doanh số bán PC của công ty. công ty vào cuối tháng Bảy.

Trong quý 2 năm nay, Intel đã báo lỗ ròng quý đầu tiên kể từ quý cuối cùng của năm 2017.

Theo International Data Corp. có trụ sở tại Mỹ, doanh số máy tính cá nhân toàn cầu giảm khoảng 15%, trong khi doanh số điện thoại thông minh giảm 9% trong quý II so với cùng kỳ năm ngoái.

Công ty nghiên cứu Gartner gần đây đã hạ dự báo tăng trưởng doanh số bán dẫn toàn cầu trong năm nay từ 13,6% xuống 7,4%.

Những đám mây đen cũng đang phủ bóng lên thị trường hàng hóa. Ngày 15/8, kim loại đồng – mặt hàng rất nhạy cảm với diễn biến của nền kinh tế – được giao dịch ở mức giá khoảng 8.100 USD / tấn, giảm gần 30% so với thời điểm ngay sau xung đột. Xung đột ở Ukraine bùng phát vào cuối tháng Hai. Các loại thép công nghiệp như nhôm và nikkel cũng đang giao dịch ở mức thấp hơn 10-20% so với ngay sau xung đột.

Theo các nhà kinh tế, triển vọng kinh tế toàn cầu vẫn tương đối ảm đạm. Nền kinh tế Trung Quốc giảm 10% trong quý thứ hai so với cùng kỳ năm ngoái, do lĩnh vực bất động sản – động lực chính thúc đẩy tăng trưởng của đất nước – vẫn chậm chạp ngay cả sau khi các biện pháp khóa cửa kéo dài trong một thời gian dài. Thượng Hải đã bị loại bỏ vào tháng Sáu. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên Trung Quốc đạt 19,9% trong tháng Bảy.

Lạm phát đang ảnh hưởng đến chi tiêu của các hộ gia đình trên toàn thế giới, góp phần gây ra lo ngại về một cuộc suy thoái sắp tới.

Ở châu Âu, cuộc chiến ở Ukraine đã đóng băng nguồn cung cấp năng lượng cho lục địa này. Vào tháng 7, tập đoàn năng lượng Gazprom của Nga đã bắt đầu giảm hơn 80% nguồn cung cấp khí đốt cho Đức. Công ty hóa chất BASF của Đức lo ngại rằng sẽ khó có thể tiếp tục hoạt động với nguồn cung cấp khí đốt hiện tại.

Chi phí tiện ích leo thang đang buộc các hộ gia đình Đức phải thắt lưng buộc bụng. Doanh số bán lẻ của nước này đã giảm 8,8% trong tháng 6, mức giảm lớn nhất kể từ khi chỉ số này được theo dõi vào năm 1994.

Lạm phát trong Khu vực đồng tiền chung châu Âu đã tăng trong ba tháng liên tiếp trong tháng Bảy ở mức 8,9%. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) ngày 27/7 đã tăng lãi suất từ ​​âm 0,5% lên 0%. Đây là lần đầu tiên ECB tăng lãi suất trong 11 năm để đối phó với giá cả tăng.

Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng đã tăng lãi suất thêm 0,75 điểm phần trăm trong tháng 6 và một lần tăng với mức tăng tương tự vào tháng 7, đưa lãi suất quỹ liên bang lên 2,5% – một mức “trung lập” được cho là sẽ không hạ nhiệt. giảm hoặc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, lạm phát ở Mỹ vẫn trên 8%. Điều này làm dấy lên dự báo Fed có thể tăng lãi suất trên 3%.

Các nhà phân tích cho rằng mặc dù lạm phát “nóng” đang bóp nghẹt chi tiêu của các hộ gia đình, nhưng việc tăng lãi suất quá nhanh có thể giáng một đòn mạnh vào nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng của Mỹ.

Mỹ và châu Âu đang phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng nhằm đạt được sự cân bằng mong manh giữa việc kiềm chế mức tăng kỷ lục của giá tiêu dùng và chống lại suy thoái kinh tế.

Một số nhà phân tích tin rằng nền kinh tế Mỹ đang ở trong tình trạng tương đối tốt với tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống gần mức thấp nhất trong 50 năm là 3,5%. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều yếu tố chưa chắc chắn, chẳng hạn như việc nhiều doanh nghiệp công nghệ tại Mỹ bắt đầu sa thải hàng loạt nhân viên.

Leave a Reply

Your email address will not be published.