125 năm cao su ‘đẻ vàng’ Việt Nam – Kỳ cuối: Làng giàu bên tán cao su

Rate this post

125 năm cao su vàng Việt Nam - Kỳ cuối: Làng trù phú bên tán cao su - Ảnh 1.

Cây cao su đã mang lại niềm vui đổi thay và phát triển cho đồng bào các dân tộc Tây Nguyên – Ảnh: QM

“Bao năm sống ở vùng đồi núi Tây Nguyên, tôi hiểu rõ cuộc sống bấp bênh của đồng bào các dân tộc trước đây. Từ khi cây cao su cho” vàng trắng “trên vùng cao này, cuộc sống của người dân cũng dần đổi thay. gia đình vợ chồng làm công nhân cao su, lương tháng khoảng 20 triệu, chưa kể thưởng, kinh tế gia đình rất ổn định ”, ông Trương Ngọc Chiến, Giám đốc Nông trường Đoàn Kết thuộc Công ty TNHH MTV Măng Đen cho biết. Yang Cao su ở Gia Lai, tâm sự.

Phát triển “vàng trắng” ở Tây Nguyên

Ông Chiến cho biết thêm, ngoài thời gian làm việc tại công ty, công nhân cao su vẫn có nhiều thời gian về quê làm việc riêng như chăn nuôi, trồng trọt, thậm chí làm cao su tiểu điền nên đời sống của bà con tốt hơn trước rất nhiều. Và những ngày đi thực tế tại các công ty cao su ở Tây Nguyên, chúng tôi đã được nghe nhiều về điều này.

Nhiệm vụ lớn của ngành cao su để phủ xanh những tán cây trên vùng đồi núi Tây Nguyên là nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc. Công ty cao su đi đến đâu, đường mở đến đó, kéo theo đó là điện, trường, trạm, chợ, làng xóm sầm uất …

Nói tóm lại, nói một cách chân thành như ông Trương Minh Tiến, Tổng giám đốc Công ty Cao su Mang Yang thì “đó là niềm vui, niềm vui của người dân, niềm vui của ngành cao su góp phần vào sự phát triển của Tây Nguyên”.

Ngược dòng thời gian về đầu những năm 1980, thời kỳ các đồn điền cao su của Tây Nguyên được đầu tư phát triển với sự “hỗ trợ” tối đa của các công ty dưới xuôi. Giữa năm 1983, Công ty Cao su Phước Hòa cử đi Mang Yang 109 cán bộ, công nhân kỹ thuật giàu kinh nghiệm.

Ban đầu, họ tuyển thêm 60 công nhân người dân tộc vào làm việc tại hai nông trường để chuẩn bị cho việc trồng cao su mới. Sức lao động của con người là chính, nhưng 40ha đầu tiên đã nhanh chóng phủ xanh, rồi đến 400ha cao su trong vụ trồng năm sau …

125 năm cao su vàng Việt Nam - Kỳ cuối: Làng giàu bên tán cao su - Ảnh 2.

Đồng bào dân tộc Tây Nguyên trồng cao su – Ảnh QUỐC MINH

Đồng thời trong năm 1983 khó khăn này, Công ty Cao su Đồng Nai cũng đã cử 70 cán bộ, công nhân kỹ thuật vào xây dựng Công ty Cao su Ea H’leo Đắk Lắk. Ban đầu, họ tuyển thêm 100 lao động địa phương thành 4 đội để chuẩn bị trồng mới 200 ha cao su ngay trong năm 1984.

Ngoài ra, nhiều công ty khác như Công ty Cao su Đồng Phú, Công ty Cao su Dầu Tiếng… cũng đã cung cấp nhân lực, phương tiện, kỹ thuật để xây dựng và phát triển ngành cao su Tây Nguyên.

Nhớ lại những năm đầu gian khổ, nhiều thế hệ lãnh đạo các công ty cao su ở vùng cao này cho biết họ đã phải đối mặt với những khó khăn mà lớp trẻ bây giờ khó có thể hình dung được.

Đầu tiên, họ phải đối mặt với sự chống trả nguy hiểm của lực lượng Fulro như những bóng ma lẩn khuất trong rừng, sau đó là bom đạn chiến tranh còn sót lại, bao cơn sốt rét không chịu buông tha.

Ngoài ra, còn một vấn đề tưởng như nhỏ nhưng cũng rất nan giải, đó là tập quán du canh, làm việc theo ý muốn của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Thay đổi thói quen năng suất này cần rất nhiều kiên nhẫn và tốn nhiều công sức thời gian…

Ông Lê Anh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH MTV Cao su Ea H cho biết: “Tuy nhiên, chúng tôi vẫn vượt qua những khó khăn chất núi này để từng bước phát triển công ty và từng bước nâng cao đời sống của người dân. ‘leo ở Đắk Lắk, vui vẻ kể. Đến cuối năm 1989, cả nước có gần 200.000 ha cao su, trong đó vùng cao su Tây Nguyên tăng từ 3.000 ha lên 12.000 ha và tiếp tục được mở rộng.

Chẳng hạn, riêng Công ty Cao su Ea H’leo có 4.812 ha cao su, Công ty TNHH MTV Cao su Chư Păh 14.000 ha (Campuchia 4.200 ha), Công ty Cao su Mang Yang 7.502 ha…

Trong cuộc trao đổi cởi mở vào đầu tháng 6 này, ông Lê Anh Tuấn khẳng định rõ ràng công ty của ông đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ được giao. Trong đó đặc biệt quan tâm đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Công ty đã kết nghĩa với tám thôn để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.

Tại Công ty Cao su Chư Păh, có hơn 70% lao động là người dân tộc thiểu số, Tổng giám đốc Phạm Đình Luyện “khoe”: Hai năm xảy ra đại dịch nhưng lương tại công ty vẫn tăng đều. Nếu như năm 2019, thu nhập bình quân của người lao động đạt 6,8 triệu đồng thì năm 2022 đã tăng thêm 8,2 triệu đồng.

“Đây là nhiệm vụ nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số mà chúng tôi hoàn thành và rất vui”, ông Luyện vui mừng nói.

125 năm cao su vàng Việt Nam - Kỳ cuối: Làng giàu bên tán cao su - Ảnh 3.

Lớp học của con em công nhân Campuchia làm việc tại dự án cao su Bà Rịa – Kampong Thom, Campuchia – Ảnh: TIẾN

Cây cao su tình yêu của ba nước Đông Dương

Cùng với sự phát triển của ngành cao su Tây Nguyên và các khu vực khác trong cả nước, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam cũng đã có những bước tiến vững chắc tại Lào và Campuchia.

Ngay từ giai đoạn 1986 – 1990, ngành cao su Việt Nam đã cử chuyên gia sang giúp khôi phục ngành cao su Campuchia.

Đến năm 1988, các chuyên gia Việt Nam đã giúp khôi phục 41.500ha cao su, bằng 83% diện tích cao su trước năm 1979 của nước bạn. Và có những cán bộ, chuyên gia Việt Nam đã hy sinh trong nhiệm vụ này.

Năm 2006, Tập đoàn Cao su Việt Nam bắt đầu triển khai chương trình trồng cao su tại Lào theo thỏa thuận đã ký giữa hai Chính phủ, thông qua việc thành lập Công ty Cổ phần Cao su Việt – Lào với dự án tại Lào. Tỉnh Champasak. Từ năm 2007, tập đoàn cũng đã triển khai các dự án trồng cao su tại Campuchia.

Các công trình này không chỉ có giá trị kinh tế, mà còn có nhiều ý nghĩa về quan hệ chính trị, ngoại giao, quốc phòng – an ninh, củng cố và phát triển tình đoàn kết, hữu nghị giữa các nước bạn bè ba nước Đông Dương. Đến năm 2010, toàn ngành cao su đạt tổng diện tích là 290.000 ha, trong đó diện tích trồng cao su tại Lào và Campuchia là 40.000 ha.

“Tôi nhớ ngày 10-2-2009, nhóm anh em chúng tôi đến giữa một vùng rừng núi hoang vắng, nghèo khó, dấu tích của vụ phá rừng trước là những con đường mòn”, ông Sáu Luyến (Nguyên) kể. Văn Luyện, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Cao su Phước Hòa – Kampong Thom) nhớ về những ngày đi tìm rừng trồng cao su ở Kampong Thom (Campuchia).

“Chúng tôi phải mò suối lấy nước, ăn tạm, tối ngủ rừng, sáng ra tiền tuyến, chia lô khai hoang, may mắn cho chúng tôi là bom mìn còn sót lại. Sau chiến tranh, dù không có cháy nổ, sốt rét nhưng có lẽ núi rừng nơi đây cũng phù hộ cho những ai có tấm lòng đến với mình … ”, ông Luyện cho biết thêm cả đời gắn bó với cao su, đây là khoảng thời gian. khó nhất nhưng cũng đáng nhớ nhất.

Đó là những năm các doanh nghiệp cao su Việt Nam sang Campuchia tìm thuê đất trồng cao su. Các tỉnh miền Đông Campuchia được nhắm đến vì khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp với loại cây công nghiệp này. Một lý do nữa là rừng hầu như không còn.

Chính phủ Campuchia muốn chuyển đổi diện tích rừng nghèo kiệt sang trồng các loại cây mang lại giá trị kinh tế. Các doanh nghiệp cao su Việt Nam có kinh nghiệm canh tác trong điều kiện gần gũi đã được chấp thuận đầu tư vào Campuchia, với kỳ vọng mang lại sự thay đổi cho vùng đất này.

Đặc biệt, Kampong Thom là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp có tên tuổi gắn với các đơn vị Việt Nam như Bà Rịa – Kampong Thom, Phước Hòa – Kampong Thom, Tân Biên – Kampong Thom, Chư Sê – Kampong Thom …

Chỉ vài năm, nơi đây như được thay một lớp áo mới, với những hàng cao su thẳng tắp xanh tươi tràn đầy sức sống. Tiếp theo là hàng vạn người từ khắp nơi tụ về tìm kế sinh nhai ổn định, những ngôi làng trù phú mọc lên.

125 năm cao su vàng Việt Nam - Kỳ cuối: Làng giàu bên tán cao su - Ảnh 4.

Một ngày tháng 6, trở lại Kampong Thom, anh Nguyễn Bá Thắng, một trong bốn người cùng nhóm với anh Nguyễn Duy Linh – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Cao su Chư Sê – Kampong Thom, xúc động tâm sự: “Khi anh em. các chị ơi, Chúng em mới vào đây, hoang vắng, vắng người, nay chợ tấp nập, người đông… ”Cây cao su đã góp phần làm thay đổi một vùng đất nghèo khó ở quê em.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHDCND Lào Chummaly Sayasone hôm đó nhấn mạnh: “Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào đánh giá cao dự án của Công ty cổ phần Cao su Việt – Lào.

Dự án đã góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế – xã hội của huyện Bachiang và tỉnh Champasack. Hướng tới một nền nông – công nghiệp phát triển, giúp người dân Lào bản địa đổi đời thuần nông, có việc làm và thu nhập ổn định.

Leave a Reply

Your email address will not be published.