‘Áp lực cộng đồng’ giúp Nhật Bản chống lại Covid

Rate this post

Nhật Bản chưa bao giờ bắt người dân phải tiêm phòng hay đeo khẩu trang nhưng nước này vẫn chiến thắng nạn dịch bằng vũ khí “sức ép cộng đồng”.

Khi đi mua hoa vào tháng 6 ở trung tâm Tokyo, Mika Yanagihara vẫn đeo khẩu trang che kín mặt.

“Nếu bạn không làm vậy, mọi người sẽ nhìn chằm chằm vào bạn. Đó là một loại áp lực”, cô gái 33 tuổi giải thích về lý do cô không dám tháo mặt nạ.

Hiện tại, tỷ lệ tử vong do Covid-19 ở Nhật Bản chỉ bằng 1/10 ở Mỹ, thấp nhất trong các nước phát triển. Với nền kinh tế lớn thứ ba thế giới và dân số lớn thứ 11, Nhật Bản đứng đầu về tỷ lệ tiêm chủng, luôn là một trong những quốc gia có tỷ lệ nhiễm trùng thấp nhất trên thế giới.

Kể từ khi bắt đầu xảy ra đại dịch, các nhà chức trách nước này đã không ban hành quy định đeo khẩu trang, không thực hiện cách ly xã hội hoặc kiểm dịch quy mô lớn. Tuy nhiên, nước này phần lớn đã tránh được trường hợp xấu nhất xảy ra với Covid-19.

Theo các chuyên gia, nguyên nhân chính xuất phát từ “sức ép từ bạn bè” hay “sức ép từ cộng đồng”. Đây là những ảnh hưởng tâm lý từ những người cùng nhóm xã hội đến từng cá nhân, khiến họ thay đổi hành vi để phù hợp với chuẩn mực của nhóm.

Bây giờ, khi tỷ lệ lây nhiễm trung bình hàng ngày ở Nhật Bản đã giảm xuống còn 12 trên 100.000 người, 80% người làm việc văn phòng hoặc đi học vẫn đeo khẩu trang trong nhà. 90% người sử dụng phương tiện công cộng thực hiện điều này. Các rạp chiếu phim, sân vận động và trung tâm thương mại tiếp tục khuyến khích mọi người đeo mặt nạ, với hầu hết mọi người đều tuân thủ.

Thuật ngữ “quần che” trở nên phổ biến, ngụ ý rằng việc làm rơi khẩu trang cũng đáng xấu hổ như việc bạn cởi đồ lót ở nơi công cộng.

Các chuyên gia không phủ nhận rằng các yếu tố như hệ thống chăm sóc sức khỏe được quốc hữu hóa và kiểm soát biên giới nghiêm ngặt đã đưa Nhật Bản vào tầm kiểm soát của Covid-19. Tuy nhiên, nhận thức xã hội và nỗi sợ hãi trước sự xấu hổ trước công chúng cũng là những nguyên nhân quan trọng. Chúng được lan truyền trong tâm trí của những người trẻ nhất đến những người lớn tuổi.

Không giống như các quốc gia khác, luật pháp Nhật Bản không cho phép chính phủ thực hiện việc cấm cửa hoặc tiêm chủng. Hầu hết mọi người đang làm theo hướng dẫn của các chuyên gia y tế, những người khuyên bạn nên đeo khẩu trang và tránh tụ tập trong không gian kín.

Sau khi bắt đầu chậm chạp trong việc tiêm chủng, khi Nhật Bản tăng cường phân phối vắc xin, hầu hết mọi người đều đã tiêm phòng. Ngay cả khi không có quy định chính thức, gần 90% người trên 65 tuổi, nhóm dân số dễ bị tổn thương nhất, đã được tiêm liều tăng cường, so với 70% ở Mỹ.

“Ở Nhật Bản, nếu bạn bảo mọi người nhìn sang bên phải, họ sẽ nhìn sang bên phải. Nói chung, việc bị ảnh hưởng bởi ý kiến ​​của người khác và không có ý kiến ​​của riêng mình là điều khá tệ. Nhưng trong một trận đại dịch, đó là điều tốt Kazunari Onishi, phó giáo sư sức khỏe cộng đồng tại St. Luke ở Tokyo, cho biết.

Hành khách tại ga Shibuya, Tokyo, Nhật Bản vào cuối tháng 6.  Ảnh: NY Times

Hành khách tại ga Shibuya, Tokyo, Nhật Bản vào cuối tháng 6. Ảnh: thời báo New York

Mặc dù sự tín nhiệm đối với chính phủ đã giảm trong đại dịch, công chúng đã chọn cách tiếp cận Covid-19 với chủ nghĩa thực dụng, tin tưởng vào khoa học. Mọi người giám sát lẫn nhau. Các doanh nghiệp và quán rượu bị báo cáo nếu vi phạm quy định về giờ mở cửa.

“Chúng tôi nhận được rất nhiều báo cáo về việc này đến nỗi chúng tôi bắt đầu nói đùa rằng mọi người là ‘cảnh sát tự quản.’ Bất cứ ai biết rằng những người xung quanh chắc chắn đang để mắt đến họ “, Yuko Hirai nói. , một thành viên của bộ phận ứng phó khẩn cấp ở Osaka, cho biết.

Áp lực cộng đồng đã ăn sâu vào ý thức của học sinh ở hầu hết các trường công lập. Naomi Aoki, phó giáo sư quản lý công tại Đại học cho biết: “Bị cho ra rìa là một vấn đề lớn đối với trẻ em Nhật Bản. Chúng luôn muốn hòa nhập vào một nhóm nhất định để không có cảm giác bị cô lập”. Tokyo, giải thích.

Trẻ em Nhật Bản được dạy phải hành động vì lợi ích tập thể. Theo truyền thống, học sinh được khuyến khích lau sàn lớp học, quét sân và thay phiên nhau phục vụ bữa trưa trong căng tin.

Văn hóa Nhật Bản cũng đề cao ý thức tự kiềm chế ở nơi công cộng. Khi Nhật hoàng Hirohito băng hà vào năm 1988, các ca sĩ nhạc pop đã hoãn đám cưới của họ, và các trường học đã hủy bỏ lễ hội. Sau thảm họa hạt nhân năm 2011 ở Fukushima dẫn đến tình trạng thiếu điện trầm trọng, các cộng đồng đã tự nguyện cắt giảm sử dụng điện.

Trong khi đại dịch xảy ra, các chính trị gia đã khai thác triệt để “ý thức tự chủ vì lợi ích chung”, James Wright, nhà nhân chủng học tại Viện Alan Turing ở London, cho biết.

Khi nCoV xuất hiện ở Trung Quốc vào đầu năm 2020, Nhật Bản là một trong những quốc gia đầu tiên bị virus xâm nhập. Các chuyên gia nhanh chóng nhận ra mầm bệnh đang lây lan trong không khí và cách tốt nhất để kiểm soát nó là ngăn mọi người tụ tập trong không gian nhỏ, kín gió hoặc tiếp xúc gần với người khác.

Hitoshi Oshitani, giáo sư virus học tại Đại học Tohoku, người tư vấn cho chính phủ Nhật Bản, cho biết nhà chức trách chỉ hướng dẫn thực thi một số quy định pháp luật, phần còn lại phụ thuộc vào ý thức hạn chế đi lại. người dân.

Tiến sĩ Oshitani rất ngạc nhiên khi các doanh nghiệp nhanh chóng đóng cửa, mọi người đồng ý ở nhà. Các công ty không bao giờ cho phép làm việc trực tuyến đã phát hành máy tính xách tay cho nhân viên để giải quyết công việc tại nhà.

Cho đến thời điểm hiện tại, khi Covid-19 không còn nghiêm trọng như những ngày đầu năm 2020, áp lực cộng đồng vẫn chưa lắng xuống.

Kae Kobe, 40 tuổi, nhân viên lễ tân tại một văn phòng ở Shibuya, cho biết cô luôn đeo khẩu trang khi làm việc vì thường xuyên phải trò chuyện với khách hàng.

“Vì mọi người xung quanh tôi vẫn đang mặc nó, nên thật khó để tôi không làm điều này”, cô nói.

Thục Linh (Theo thời báo New York)

Leave a Reply

Your email address will not be published.