Bảo vệ công trình trong thời đại công nghệ (phần 2): Thách thức và giải pháp tại Việt Nam | Khoa học

Rate this post

>>> Bảo vệ tác phẩm công nghệ (phần 1): AI có xung đột với sở hữu trí tuệ?

Tại Việt Nam, AI đã bắt đầu được phát triển và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, như AI có thể sáng tác 10 giai điệu nhạc / giây của kỹ sư CNTT Nguyễn Hoàng Bảo Đại, AI nhận dạng khuôn mặt trong điều khiển thị giác máy tính. Kiểm soát dịch COVID-19, hoặc AI phát hiện COVID-19 thông qua ho, …

Công nghệ nhận dạng khuôn mặt của VinAI

Công nghệ nhận dạng khuôn mặt của VinAI

Hiểu được tầm quan trọng của xu hướng mới này, chính phủ Việt Nam đã xác định trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ là công nghệ đột phá trong 10 năm tới; Đồng thời, đây sẽ là “mũi nhọn” cần được nghiên cứu để tận dụng cơ hội do Cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại. Để tận dụng tốt những lợi thế mà AI mang lại cho sự phát triển của nền kinh tế số, việc dự báo những thách thức pháp lý cũng như đề xuất một số giải pháp để giải quyết các vấn đề trên là cấp thiết. làm. Bởi dù muốn hay không, AI vẫn đang trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người trong kỷ nguyên kỹ thuật số, nhất là khi AI hoàn toàn có khả năng tự suy nghĩ, tự tạo ra tác phẩm và có khả năng gây ra thiệt hại mà đôi khi người dùng, lập trình viên hay nhà đầu tư không thể lường trước được.

Bên cạnh những tác động tích cực và các chính sách ưu tiên phát triển AI, những tác động tiêu cực của AI cũng xuất hiện. Bởi lẽ, AI không phải là con người tự nhiên mà có, dù AI cũng có những “suy nghĩ” theo các thông số được lập trình sẵn, và cập nhật dữ liệu liên tục và nhanh chóng. Theo đó, cũng có một số thách thức pháp lý đối với việc bảo vệ các tác phẩm được tạo ra từ AI. Và đặt ra vấn đề mà các nhà nghiên cứu, lập pháp phải nghiêm túc xem xét, bởi những thách thức, rủi ro về xã hội và pháp luật luôn tiềm ẩn, khi bùng phát sẽ rất khó kiểm soát.

>>> Không thu hẹp đối tượng vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Mặc dù ngành CNTT và IoT ở Việt Nam hiện đang trên đà phát triển, nhưng hệ thống pháp luật vẫn chưa có cách tiếp cận rõ ràng đối với AI hoặc các thực thể mang AI. Đây thực sự là một thách thức trong quá trình ban hành và áp dụng pháp luật để điều chỉnh nhóm đối tượng này. Pháp luật dân sự Việt Nam quy định chủ thể phải là cá nhân hoặc tổ chức (COL 2015), chưa xác định được chủ thể là máy hay chương trình máy tính nên sẽ không thể xác định được tư cách pháp nhân. Logic của AI cũng như các thực thể mang AI đều là chủ thể của pháp luật, có quyền như con người. Vì vậy, theo xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới, phương án thích hợp cho Việt Nam khi xây dựng hệ thống pháp luật liên quan đến AI cần là: không cố xác định tư cách pháp nhân của AI mà tập trung vào AI. tập trung vào định nghĩa về AI, xác định rõ bản chất của các chủ thể mang AI là gì, từ đó xác định chính xác các vấn đề pháp lý phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Một số giải pháp

Để tận dụng những lợi thế do AI mang lại cho sự phát triển của nền kinh tế, việc dự báo các thách thức pháp lý cũng như đề xuất các giải pháp để giải quyết chúng là điều cấp thiết. Theo đó, tác giả có một số khuyến nghị như sau:

Công nghệ nhận dạng khuôn mặt được dự báo sẽ đạt 22,7 tỷ USD vào năm 2027 (theo FPT).

Công nghệ nhận dạng khuôn mặt được dự báo sẽ đạt 22,7 tỷ USD vào năm 2027 (theo FPT).

Thứ nhất, luật SHTT hiện hành chỉ quy định việc bảo hộ các tác phẩm có tính chất truyền thống, theo tiêu chuẩn cũ là chỉ công nhận tác giả là con người thực tế. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng các sản phẩm được tạo ra từ AI có thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được coi là một tác phẩm sáng tạo theo quy định của SHTT và không nằm trong danh sách các tác phẩm không được bảo hộ. bảo vệ bản quyền. Do đó, các nhà lập pháp nên xây dựng các ngoại lệ của riêng họ để công nhận việc bảo vệ các tác phẩm do AI này tạo ra, giống như quan điểm của Vương quốc Anh trong Đạo luật Bản quyền, Thiết kế và Bằng sáng chế 1988 (CDPA).

Thứ hai, xác định địa vị pháp lý của AI. Trước hết, cần phải nói rõ rằng địa vị pháp lý của AI và con người là độc lập và khác nhau, vì vậy không thể cố tình gắn AI với con người. Từ góc độ xã hội, rất khó để AI có thể học và hành xử theo cùng một tập hợp các phẩm chất đạo đức như con người. Hơn nữa, không thể áp dụng các nguyên tắc hoặc trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể AI. Ví dụ, trong trường hợp AI vi phạm pháp luật hiện hành về bản quyền, hành chính, hình sự,… thì nhà nước và các chủ thể trong xã hội sẽ phản ứng như thế nào và áp dụng các biện pháp xử lý. Như thế nào là vi phạm? Vì vậy, tác giả đề xuất xây dựng bộ tiêu chí đánh giá, phân loại AI, từ đó quy định cụ thể áp dụng cho từng nhóm đối tượng.

Thứ ba, xác định tác giả và chủ sở hữu bản quyền đối với các tác phẩm được tạo ra từ AI. Hiện tại, AI chỉ được coi là công cụ hỗ trợ con người (người dùng) sáng tác tác phẩm, mặc dù hầu hết AI đều tự chủ trong hoạt động này mà không cần con người can thiệp quá nhiều. . Ngoài ra, còn có vai trò của các lập trình viên (người đã thiết lập các thuật toán tạo ra AI), và các nhà đầu tư (các cá nhân và doanh nghiệp đầu tư tiền vào các dự án AI).

Thứ tư, thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp quyền tác giả đối với các tác phẩm thuộc loại này. Bên cạnh việc thiết lập một hệ thống pháp luật cụ thể dành riêng cho nhóm đối tượng AI, việc xây dựng các quy định để xử lý các tranh chấp liên quan đến xâm phạm quyền SHTT cũng là một mục tiêu quan trọng. Rất khó xác định tác phẩm văn học có vi phạm bản quyền tác phẩm đang được bảo hộ hay không. Không thể quy định một con số cụ thể trong luật hoặc bất kỳ văn bản nào khác về tỷ lệ trích dẫn. Trong trường hợp “trích dẫn hợp lý” chỉ được xem xét trên khía cạnh đúng sai trong từng tình huống cụ thể. Đây sẽ là một khó khăn lớn khi áp dụng cho các tác phẩm được tạo ra từ AI, sẽ rất khó xác định các tác phẩm này có vi phạm bản quyền hay không khi mà chủ yếu quá trình sáng tạo của AI phải phụ thuộc nhiều vào đầu vào của người vận hành / người dùng. Càng nhiều dữ liệu, khả năng học máy của AI càng hiệu quả.

Thứ năm, thiết lập hệ thống pháp luật về bồi thường thiệt hại do AI gây ra. Mặc dù AI không phải là con người thực tế, nhưng các lập trình viên luôn phản bác rằng họ viết ra các thuật toán ngẫu nhiên, nhằm hạn chế việc sao chép AI, mặc dù người dùng phản bác rằng việc họ chạy chương trình máy tính chỉ nhằm mục đích sử dụng cá nhân, là hành vi xâm phạm quan hệ pháp luật. của IP hoặc dân sự vẫn có thể xảy ra. Điển hình là các hành vi vi phạm bản quyền của các tác giả khác (do cơ chế hoạt động của AI là học máy, học từ dữ liệu đầu vào nên nhà cung cấp dữ liệu gửi vào gì thì AI sẽ học theo cách đó; càng ít dữ liệu thì khả năng đạo văn càng lớn) . Hoặc vì AI là một chương trình máy tính (có thể được thể hiện thông qua các thực thể hữu hình khác), sản phẩm của AI hoàn toàn có thể vi phạm các tiêu chuẩn xã hội và đạo đức do con người đặt ra (chẳng hạn như câu và từ xúc phạm nhân phẩm của người khác, v.v.).

Vì vậy, việc thiết lập một hệ thống quy phạm pháp luật để điều chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại do AI gây ra là hết sức cấp thiết và quan trọng.

Đánh giá của bạn:

Leave a Reply

Your email address will not be published.