Một nhà thơ yêu đất nước, con người, nhân loại và hòa bình

Rate this post

Trong đó, hồ sơ kỷ niệm 200 năm ngày sinh Trạng nguyên Nguyễn Đình Chiểu (sinh ngày 13/5 âm lịch, năm Nhâm Ngọ 1822, tức ngày 1/7) của Việt Nam do 4 các nước khác: Ấn Độ, Nhật Bản. Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan nhận được sự đồng thuận tuyệt đối của tất cả các nước. Ông được UNESCO coi là nhà thơ Việt Nam nổi tiếng với những tư tưởng yêu nước, thương dân, nhân đạo và yêu chuộng hòa bình.

Một cuộc sống khó khăn và vượt qua nghịch cảnh

Nguyễn Đình Chiểu quê ở Mạnh Trạch, hiệu là Trọng Phú, sau mù lấy hiệu là Hội Trai, quê mẹ là làng Tân Thới, tổng Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh). ). Tổ tiên xa xôi của ông là người Kinh Bắc, sống ở Nam Kỳ từ lâu đời. Cha Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, tỉnh Thừa Thiên, vào Gia Định làm Bí thư dưới quyền tả quân Lê Văn Duyệt. Mẹ là bà Trương Thị Thiết, vợ thứ hai của ông Nguyễn Đình Huy.

Dù bị mù từ nhỏ nhưng Nguyễn Đình Chiểu không đầu hàng số phận. Anh đã nỗ lực học tập, vượt qua nghịch cảnh để trở thành thầy dạy chữ cho nhân dân, thầy thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Học trò của ông trải khắp Sài Gòn, Cần Giuộc, Bến Tre, nhiều ngàn người. Người ta gọi ông bằng cái tên vừa kính trọng vừa thân thương: Cụ Đồ hay cụ Đồ Chiểu. Triết lý chữa bệnh của ông là chữa khỏi bệnh cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu nghèo. Với bất cứ ai anh đều tận tâm chữa bệnh. Đối với những bệnh nhân quá nghèo, anh điều trị miễn phí. Trong “Dư Tiêu y học vấn đáp”, ông viết: “Người ăn xin cũng sinh / Bệnh tật còn cứu được, thuốc thang cũng không được”.

Nguyễn Đình Chiểu đã nêu một tấm gương sáng về y đức, về đạo đức nhà giáo và tấm gương của một con người vượt qua nghịch cảnh để sống có ích.

Nhà thơ lớn của dân tộc việt nam

Nhắc đến tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trước hết phải kể đến bài thơ Nôm Lục Vân Tiên. Tác phẩm được viết theo thể lục bát, dài khoảng 2.100 câu, hoàn thành vào những năm 1851-1853 trên đất mẹ. Đây là bài thơ ca ngợi sự công bằng và những giá trị đạo đức trong cuộc sống. Nhân vật chính Lục Vân Tiên phản ánh cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu với những bất hạnh mà ông đã trải qua: Chuẩn bị thi vào trường thi, ông phải bỏ quê để chịu tang mẹ, rồi bị bệnh, mù cả hai mắt và bị bỏ rơi. bởi vợ sắp cưới của mình. hôn. Những diễn biến khác của câu chuyện vừa là cuộc đời, cảnh đời, vừa là ước mơ của chính anh và của bao người. Có thể thấy “Lục Vân Tiên” có 4 giá trị nổi bật sau:

Thứ nhất, “Lục Vân Tiên” đề cao lòng biết ơn trong cuộc sống: Tình cha con, tình vợ chồng, tình bạn, tình thầy trò… Tình bạn là cốt lõi của tâm hồn Việt Nam, tính cách Việt Nam. , của văn hóa Việt Nam. Nếu con có hiếu thì phải như Vân Tiên với cha mẹ, Nguyệt Nga với Kiều, với Lục. Nếu si tình thì thủy chung như Nguyệt Nga, Vân Tiên. Tình bạn phải hết lòng như Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh …

Thứ hai, “Lục Vân Tiên” nêu cao tinh thần nghĩa hiệp, coi trọng công đức (tiền tài). “Lục Vân Tiên” tưởng như là một câu chuyện về mỹ nữ, nhưng tài tử ở đây không chỉ học giỏi, đỗ đạt cao, đàn giỏi, vẽ đẹp, mê đến xuất thần mà còn có tinh thần nghĩa hiệp, quên mình. Giúp dân, giúp nước. Người dân Việt Nam, đặc biệt là người dân Nam Bộ, không ai là không biết mấy câu thơ thuộc lòng: “Ăn nhớ câu nói chẳng qua là vi bất tòng tâm / Làm người như thế cũng vô vi”.

Thứ ba, “Lục Vân Tiên” thể hiện ước mơ của người bình dân về lẽ công bằng ở đời: Ở đâu gặp thiện, ở ác phải trừng trị. Vân Tiên bị mù, bị từ chối kết hôn nhưng cuối truyện chàng đã thi đỗ, lập công lớn, mắt sáng ngời và chàng đã được đền đáp bằng tình yêu cả đời của nàng Nguyệt Nga xinh đẹp tuyệt trần. Hôn thê, đại gia nhà giàu Võ Thế Loan; Trịnh Hâm – người đã từng là bạn nhưng lại bị ghen tuông ác độc – tuy được anh ta tha mạng nhưng trời đất không dung thứ, có người được hổ tha, có người bị cá nuốt.

Thứ tư, “Lục Vân Tiên” là truyện thơ viết bằng chữ Nôm, nghĩa là tiếng mẹ đẻ, thể hiện tình cảm dân tộc. Mặc dù là người “tắm” trong văn học chữ Hán và văn học bác học, nhưng Nguyễn Đình Chiểu không sáng tác bằng chữ Hán mà chọn chữ Nôm-Việt-ngữ mẹ đẻ, tiếng nói của “phụ nữ và trẻ em”. trẻ “để sáng tác. Ông kể chuyện một cách bình dân, dễ hiểu nên dễ được nhân dân đón nhận. Vì vậy, truyện” Lục Vân Tiên “từ bao đời nay đã có ảnh hưởng rộng lớn trong cả nước.

Ở Việt Nam, đặc biệt là Nam Bộ, tác phẩm “Lục Vân Tiên” đã đi vào ca dao, dân ca và trở thành một loại hình diễn xướng đặc sắc “Nói đến thơ Vân Tiên”. Đọc thơ cũng không giống ngâm thơ, mà giữa đọc và ngâm, có khi hùng hồn, có khi êm dịu, lắng đọng tùy theo ý nghĩa của từng câu thơ. Tác phẩm “Lục Vân Tiên” còn đi vào đời sống của người Việt Nam qua nhiều loại hình nghệ thuật vô cùng phong phú khác. “Lục Vân Tiên” được chuyển thể thành tuồng, cải lương, kịch nói, nhạc kịch, phim truyện, phim truyền hình… Trên bình diện thế giới, “Lục Vân Tiên” là một tác phẩm văn học dịch của Việt Nam. xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng nước ngoài (1864) và là tác phẩm được dịch nhiều thứ ba trong các tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam sau Truyện Kiều và thơ Hồ Xuân Hương. Đến nay, tác phẩm này đã được dịch ra 5 thứ tiếng với 11 bản dịch.

Nhà thơ yêu đất nước, yêu nhân dân, yêu hòa bình

Lòng nhân đạo, yêu nhân dân, yêu hoà bình chủ yếu được thể hiện trong văn, thơ của Nguyễn Đình Chiểu sáng tác sau khi thực dân Pháp xâm lược. Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là nhà thơ hàng đầu trong nền văn học yêu nước Việt Nam nửa sau thế kỷ 19 và trong phong trào chống thực dân của các dân tộc Á – Phi – một phong trào được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ. tiến bộ trên thế giới, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, trong đó có UNESCO.

Không trực tiếp đánh giặc bằng súng, gươm, Đồ Chiểu chọn ngòi bút. Nhà thơ đã ghi lại cả một thời kỳ đau thương, vĩ đại của dân tộc bằng thái độ yêu – ghét rõ ràng để cổ vũ cuộc kháng chiến và giữ cho ngọn lửa yêu nước luôn cháy trong nhân dân.

Cuộc kháng chiến ở miền Nam là một thực tế rất mới. Đó là cuộc chiến tranh nhân dân: cuộc chiến tranh của những người nông dân tự mình đứng lên chống lại kẻ thù, dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh nghĩa quân từ nhân dân. Thời đại đã đưa người nông dân lên vũ đài chính trị, trở thành nhân vật chính, nghĩa vụ duy nhất của người nghệ sĩ là nhìn nhận hiện thực mới mẻ này và phản ánh nó. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã tạo nên hình tượng bất hủ về người nghĩa sĩ nông dân đứng lên chống thực dân Pháp giành độc lập trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc anh hùng. Chưa bao giờ trong nền văn học nước nhà, người nông dân được thể hiện với sức mạnh và vẻ đẹp như thế.

Khi ra trận, những người chính nghĩa tự trang bị cho mình những vật dụng quen thuộc hàng ngày: ống hút, dao rựa để nấu ăn … Những vật dụng ấy bỗng chốc trở thành vũ khí để chống lại. chiến đấu với “đạn nhỏ, đạn lớn”, “tàu thiếc, tàu đồng”. Điều gì đã tạo ra những điều kỳ diệu này? Đó là sức mạnh của ý chí con người, của tình yêu tha thiết với nền tự chủ của dân tộc anh. Chấp nhận đương đầu với vũ khí tối tân, đó là sự lựa chọn có ý thức của những người nông dân – một sự lựa chọn can đảm. Chính tinh thần đó đã tạo nên sức mạnh phi thường của họ. Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ nên bức tranh đóng quân sống động và hào hùng: “Việc quan vất vả gióng lên tiếng cờ, tiếng trống, xô rào, xem giặc cùng / Không sợ Tây bắn đạn nhỏ. và đạn lớn. Cửa xông vào, liều mạng coi như không có / Kẻ đâm người chém lưng, làm mã tà, ma sợ hết hồn … ”.

Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với chủ nghĩa nhân đạo, yêu dân tộc, tinh thần yêu chuộng hòa bình truyền thống của dân tộc Việt Nam. Trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Đình Chiểu luôn phản ánh số phận của con người: Con người là nạn nhân đầu tiên của chiến tranh, trong đó Nguyễn Đình Chiểu đặc biệt quan tâm đến phụ nữ và trẻ em – những nhóm yếu thế nhất. thống trị trong xã hội. Những câu văn dưới đây thể hiện tình cảm nhân đạo – nhân văn sâu sắc: “Phạt kẻ hèn nhát khó thu treo cổ / Tội không tha trẻ con, đàn bà đốt nhà bắt đồ vật” (Nhà từ thiện Vatican đã chết). sáu tỉnh).

Yêu nước, yêu nhân dân, Nguyễn Đình Chiểu mơ ước không gì khác hơn là một đất nước thanh bình, nhân dân thái bình. Lòng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với tinh thần nhân nghĩa, yêu dân, yêu hòa bình – một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam sẽ sống mãi trong lòng nhân dân.


Nhận xét về Nguyễn Đình Chiểu, UNESCO cho rằng: “Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là nhà thơ Việt Nam nổi tiếng với tư tưởng yêu nước, thương dân, nhân nghĩa, yêu hòa bình. Ông cũng là nhà văn hóa lỗi lạc, có công phổ biến Nho học. quan niệm đạo đức về lòng trung, hiếu, nghĩa, đạo theo triết lí nhân sinh của người Việt Bài thơ “Lục Vân Tiên” miêu tả đạo lí và lòng bao dung của con người là một trong những bài thơ hay nhất trong những tác phẩm nổi tiếng của văn học Việt Nam, tác phẩm đã được dịch thành biết nhiều thứ tiếng như: Pháp, Nhật, Anh … Dù mù lòa nhưng Nguyễn Đình Chiểu vẫn cố gắng trở thành một nhà giáo đáng ngưỡng mộ, một thầy thuốc có đạo đức lớn. Dạy chữ, chữa bệnh cho mọi người là triết lý sống mà ông theo đuổi suốt cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu đã nêu một tấm gương về khả năng học tập suốt đời của người khuyết tật mà mọi người trên thế giới có thể noi theo ”.

PGS. PGS.TS ĐOÀN LÊ GIANG

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.

Leave a Reply

Your email address will not be published.