Ngân hàng Nhà nước xoay sở “giữa muôn vàn chướng ngại vật”

Rate this post

Như đã đề cập trong các bài báo gần đây, từ cuối tháng 5 đến tháng 6 năm nay, thị trường liên ngân hàng Việt Nam đã xuất hiện một hiện tượng hiếm gặp trong nhiều năm: kỳ hạn hoán đổi lãi suất giữa VND và USD tại Việt Nam bị âm nặng. điều kiện.

Cụ thể, lãi suất VND thông thường ở kỳ hạn qua đêm giảm nhanh và sâu, từ mức 2% / năm trước đây xuống chỉ còn quanh mức 0,4% / năm. Trong khi đó, lãi suất USD qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh và ổn định quanh mức 0,9% / năm. Điểm hoán đổi lãi suất ở đây là quá âm, như đối với các kỳ hạn ngắn hạn hàng tuần.

Lỗ hổng của điểm hoán đổi đó càng sâu khi giữa tuần này Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có đợt tăng lãi suất lần thứ ba, mạnh hơn. “Rốt cuộc”, lãi suất USD trên thị trường liên ngân hàng Việt Nam ngay lập tức tăng vọt, qua đêm lên tới hơn 1,6% / năm, trong khi lãi suất VND qua đêm vẫn quanh mức 0,4% / năm. .

Điểm hoán đổi, hoặc chênh lệch lãi suất giữa hai loại tiền tệ, ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Trong số các yếu tố khác, mức chênh lệch trên ảnh hưởng đến tỷ giá USD / VND, với mức tăng mạnh gần đây (theo hướng VND mất giá) (thay đổi khoảng 2% chỉ trong khoảng một tháng).

Theo cập nhật của một số công ty chứng khoán trong báo cáo phân tích công bố mới đây, trực tiếp bình ổn tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước đã bán ra khoảng 7 tỷ USD thông qua phương thức kỳ hạn 3 tháng không hủy ngang, cũng như việc tăng mạnh giá bán USD trong tuần thứ hai của tháng Năm.

Lãnh đạo chuyên trách Ngân hàng Nhà nước vừa có thông điệp sẽ tiếp tục tăng tần suất bán ngoại tệ để ổn định tỷ giá nếu thị trường có nhu cầu. Và con số mà một số nhà quan sát đề cập hiện nay là khoảng 11 tỷ USD (tất nhiên những số liệu này không được Ngân hàng Nhà nước công bố).

Như vậy, tỷ giá USD / VND là vấn đề đầu tiên xoay quanh việc điều hành chính sách tiền tệ. Cái khó của Ngân hàng Nhà nước nằm ở sự “ngược” chính sách: trong khi Fed tăng lãi suất thì Việt Nam vẫn cố gắng ổn định, thậm chí có mục tiêu hạ lãi suất cho vay, các chương trình hỗ trợ lãi suất. 2% …

Nhà điều hành phải can thiệp ngay vào tỷ giá hối đoái, kể cả khi nó đi chệch khỏi những tác động bên trong và bên ngoài nêu trên. Thứ nhất, nếu tỷ giá USD / VND tăng quá mạnh sẽ kích thích lạm phát nhập khẩu, khi giá nguyên vật liệu, thiết bị … trên thế giới nói chung thời gian qua đều tăng; thứ hai, chi phí vay thương mại quốc tế của Việt Nam (bao gồm Chính phủ và doanh nghiệp) gặp rủi ro cao; Thứ ba, môi trường đầu tư và thu hút đầu tư cần được giữ ổn định khi trước đây tỷ giá hối đoái biến động quá mạnh, vốn từng được coi là rủi ro lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài …

Tỷ giá USD / VND cũng là “điểm tham chiếu” cho những áp lực kiểm soát lạm phát, chi phí nợ, môi trường đầu tư, những vướng mắc trong các tiêu chí mà Bộ Tài chính Mỹ giám sát định kỳ… đây đã đẩy Ngân hàng Nhà nước vào thế “ở giữa đám đông”.

Tình hình đó càng căng thẳng, càng phức tạp hơn khi xét trong bối cảnh nhiệm vụ chính sách của Việt Nam: không chỉ ổn định tỷ giá mà cả lãi suất, thậm chí bắt đầu hỗ trợ 2% / năm. lãi suất. Vấn đề ở đây nổi cộm hơn, khi Ngân hàng Nhà nước vừa có quyết định can thiệp nhanh và mạnh, nhất là lại có vẻ “mâu thuẫn” với thực tế đang cần hỗ trợ.

CHỈ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH

Tuần này, thị trường bất ngờ đón một dòng chảy ngược, khi Ngân hàng Nhà nước có 3 phiên liên tiếp hút một lượng tiền lớn. Đây là hoạt động chưa từng có kể từ cuối năm 2019 và đầu năm 2020 – giai đoạn nhà điều hành mua vào lượng ngoại tệ lớn và đưa ra nguồn cung VND lớn.

Khi đó, đại dịch COVID-19 bất thường xuất hiện. Ngân hàng Nhà nước nhạy bén và nhanh chóng trước yêu cầu tiên quyết: đảm bảo thanh khoản hệ thống khi có yếu tố bất thường cản trở dòng chảy. Khi đó, hoạt động rút tiền lập tức dừng lại, thậm chí là bơm ròng để hỗ trợ hệ thống điều tiết dòng chảy, đáp ứng thanh khoản.

Và đến nay, như trên, tuần này thị trường đã ghi nhận Ngân hàng Nhà nước bất ngờ quay trở lại hút tiền thông qua việc phát hành tín phiếu với số lượng lớn.

Tình huống Ngân hàng Nhà nước quay lại và đề nghị rút một số tiền như hiện nay chắc chắn sẽ trở thành một “điển hình”, hay đơn giản là một thực tế mà nhiều năm sau nữa, những ai nghiên cứu, tìm hiểu về thực tiễn điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam sẽ cần để được xem xét. Vì nó khá đặc biệt.

Cụ thể, sau phiên đấu thầu tín phiếu 10.000 tỷ đồng, kỳ hạn 14 ngày vào ngày 21/6 và chỉ được khớp lệnh (rút) 200 tỷ đồng, lãi suất 0,3% / năm, các phiên liên tiếp sau đó, quy mô chào bán lên tới 20.000 tỷ đồng. và có tới 19.400 tỷ đồng khớp với lãi suất cao hơn 0,7% / năm. Phiên cập nhật hôm nay (23/6), 30.000 tỷ đồng khác được rút ra với lãi suất 0,7% (cụ thể là 29.999,7 tỷ đồng).

Ngoài các phiên trên, gần 50.000 tỷ đồng trong hệ thống ngân hàng đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hút ròng. Nếu cộng thêm lượng tiền rút qua kênh bán kỳ hạn thì quy mô kỳ hạn hiện tại và tương lai là rất lớn.

Ngân hàng Nhà nước quản lý

Nguồn tiền rút khi đáo hạn từ giao dịch kỳ hạn ngoại tệ chỉ mang tính chất tham khảo thông qua tổng hợp một số kênh nghiên cứu thị trường.

Trước hết, liên quan đến tỷ giá USD / VND nêu trên, việc Ngân hàng Nhà nước quay trở lại phát hành hối phiếu để hút tiền là một sự sàng lọc chính sách, trong bối cảnh “muôn trùng trùng điệp”. Điều chỉnh ở đây là giảm trực tiếp hỗ trợ hoán đổi giữa lãi suất VND và USD trên thị trường liên ngân hàng. Mặt bằng lãi suất VND liên ngân hàng tính đến thời điểm hiện tại cũng có xu hướng tăng, mặc dù không mạnh. Tính chất đặc biệt của sự can thiệp này đã được nhận thấy ở nhiều khía cạnh.

Quyết định tinh chỉnh này có thể được coi là cực đoan. Bởi lẽ, bối cảnh “kích cầu” và hỗ trợ phục hồi trong nước đang đòi hỏi ngành ngân hàng và chính sách tiền tệ phải tăng cường hỗ trợ chi phí (lãi suất); Nguồn tiền dồi dào hơn sẽ giúp điều tiết lãi suất, dòng này vẫn buộc phải rút ra với số lượng lớn dù chỉ là trong ngắn hạn. Trong khi đó, như báo chí đã đưa tin thời gian qua, lãi suất huy động vẫn đang tiếp tục tăng …

Ngược lại, rút ​​tiền cũng là một trong những giải pháp thường được xem là hóa giải áp lực lên lạm phát, khi lạm phát ngày càng trở nên nóng hơn trong thực tế và tâm lý thị trường. Mặc dù về mặt này, Ngân hàng Nhà nước có một bộ phận bị động nhất định, liên quan đến “van bơm tiền” của Kho bạc Nhà nước trong hoạt động giải ngân…

Các yếu tố và dòng chảy trên đan xen, thậm chí mâu thuẫn và có những mâu thuẫn nhất định khi dựa trên nhiều mục tiêu mà Ngân hàng Nhà nước đang căng mình thực hiện: vừa ổn định / thậm chí giảm lãi suất vừa phải kiểm soát lạm phát đồng thời lấp khoảng chênh lệch tỷ giá. kích cầu, và đặc biệt là trong bối cảnh bên ngoài, lãi suất ngân hàng trung ương liên tục tăng.

Đó là chưa kể, không chỉ thu hút, có thời điểm nhà điều hành còn bơm tiền ra thị trường mở (OMO) dù khối lượng hàng ngày không lớn (trên dưới 300 tỷ đồng / phiên) xen kẽ với những phiên không có khối lượng. . chung. Ở chiều này, một vấn đề khác “nảy sinh” tuy không lớn: hệ thống ngân hàng có tình trạng các thành viên không thể gặp nhau về cung cầu vốn ngắn hạn; Có trường hợp nhà điều hành vẫn phải vay với lãi suất lên tới 2,5% / năm, trong khi lãi suất cho vay liên ngân hàng chỉ quanh 0,5% / năm, hoặc nhiều ngân hàng vẫn đang chuyển vốn cho Ngân hàng. Nhà nước thông qua vận đơn để giảm mức lãi suất trên chỉ 0,7% / năm.

Và một điều nữa khiến các biện pháp tinh chỉnh, can thiệp của Ngân hàng Nhà nước càng trở nên đặc biệt: vốn đã có dấu hiệu đình trệ trong hệ thống.

Như đã nói ở bài trước, khi các hiện tượng trên bắt đầu bộc lộ, nguồn vốn có dấu hiệu chững lại bởi các kênh đầu tư nóng như cổ phiếu, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, thậm chí cả tiền ảo, bất động sản. toàn bộ “kinh tế ngầm” thông qua cá độ bóng đá với hầu hết các giải đấu kết thúc… đồng thời đình trệ hoặc hạn chế, tiền ngắn hạn gửi vào ngân hàng. Trong khi đó, đầu ra tín dụng đang bị hạn chế nghiêm ngặt, thậm chí là ngột ngạt do nhiều thành viên đã hết oxy tăng trưởng.

Đó cũng là cơ sở, điều kiện để Ngân hàng Nhà nước đưa ra mức thu để rút một lượng tiền lớn, trong bối cảnh hết sức đặc biệt và nhiều yếu tố đan xen như đã nêu trên.

Leave a Reply

Your email address will not be published.